Chương 1:Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thủ đô Viêng Chăn, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Chương 3: Định hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thủ đô Viêng Chăn trong thời gian tới 7 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Những vấn đề chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm và tiêu chí phân loại 1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa, tên tiếng Anh viết tắt là SMEs (Small and medium enterprise) những doanh nghiệp có số lao động hay doanh số ở dưới một mức giới hạn nào đó.
Từ viết tắt SMEs được dùng phổ biến ở cộng đồng các nước châu Âu, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Liên hợp quốc (UN), Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và được sử dụng nhiều nhất ở Mỹ. Các nước thuộc cộng đồng châu Âu truyền thống có cách định nghĩa riêng về SMEs của riêng họ, ví dụ ở Đức được định nghĩa là những doanh nghiệp có số lao động dưới 500 người, trong khi đó ở Bỉ là 100 người. Tuy nhiên, đến nay Liên minh Châu Âu đã có khái niệm về SMEs chuẩn hóa hơn. Theo đó, những doanh nghiệp có dưới 50 lao động là doanh nghiệp nhỏ, còn các doanh nghiệp có trên 250 lao động là doanh nghiệp vừa.
Ngược lại, ở Mỹ những doanh nghiệp có dưới 100 lao động là doanh nghiệp nhỏ và dưới 500 lao động là doanh nghiệp. Như vậy, ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực có các định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa là khác nhau. Vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, thuật ngữ doanh nghiệp nhỏ và vừa bắt đầu du nhập vào nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Ban đầu có ý kiến cho rằng, đây là loại hình kinh tế của chủ nghĩa tư bản, nhưng kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã khẳng định rõ, sự tồn tại của doanh nghiệp nhỏ và vừa là tất yếu khách quan đối với nền kinh tế ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Nhận thức đó đã tác động lớn đến quan điểm, 8 Luan van chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước Lào đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các doanh nghiệp này không còn bị coi là “phụ trợ” như trước, mà giờ đây đã trở thành các tổ chức sản xuất kinh doanh chủ yếu trong nền kinh tế, là nhà thầu phụ quan tọng cho các doanh nghiệp lớn, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Hiện nay, doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào được hiểu là những tổ chức sản xuất kinh doanh có quy mô nhỏ trong nền kinh tế, với tư cách là chủ thể có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội và cần được nghiên cứu để có phương thức điều tiết, quản lý và chính sách hỗ trợ phù hợp. Ở Việt Nam, tùy theo từng giai đoạn cụ thể khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa được đưa ra để phù hợp với mục đích của việc xác định và mức độ phát triển doanh nghiệp.
Đến nay, khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừavề cơ bản được hiểu trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên). Các tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Các tiêu chí để phân loại doanh nghiệp có hai nhóm: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng. Nhóm tiêu chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp như chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp. Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế.
Do đó chúng thường được dùng làm cơ sở để tham khảo trong kiểm chứng mà ít được sử dụng để phân loại trong thực tế. 9 Luan van Nhóm tiêu chí định lượng có thể dựa vào các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận. Trong đó: Số lao động: có thể lao động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên, lao động thực tế; Tài sản hay vốn: có thể là tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản (vốn) cố định, giá trị tài sản còn lại; Doanh thu: có thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm (hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ số này). Trong các nước APEC tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất là số lao động.
Còn một số tiêu chí khác thì tuỳ thuộc vào điều kiện từng nước. Tuy nhiên sự phân loại doanh nghiệp theo quy mô lại thường chỉ mang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ phát triển kinh tế của một nước; tính chất ngành nghề; vùng lãnh thổ; tính lịch sử; mục đích phân loại. Như vậy có thể xác định được quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc một ngành hoặc một địa bàn cụ thể theo công thức sau: F(Sba) = Ib* Ia*Sa/ Id Trong đó: F(Sba): quy mô một doanh nghiệp thuộc một ngành và trên một lãnh thổ cụ thể. Ib, Ia, Id: tương ứng là hệ số vùng, ngành, hệ số tăng trưởng quy mô doanh nghiệp; Sa: quy mô vừa và nhỏ chung trong một nước.1: Tham khảo về tiêu chí doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nƣớc Quốc gia/ Phân loại doanh nghiệp Số lao động Vốn đầu tƣ Doanh thu Khu vực nhỏ và vừa bình quân A.
NHÓM CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN 1. Hoa Kỳ Nhỏ và vừa 0-500 Không quy định Không quy định Đối với ngành sản xuất 1-300 ¥ 0-300 triệu 2. Nhật Bản Đối với ngành thương mại 1-100 ¥ 0-100 triệu Không quy định Đối với ngành dịch vụ 1-100 ¥ 0-50 triệu Siêu nhỏ < 10 Không quy định 3. EU Không quy định Nhỏ < 50 < €7 triệu 10 Luan van Vừa < 250 < €27 triệu 4.
Australia Nhỏ và vừa < 200 Không quy định Không quy định Nhỏ < 100 < DNNVV$ 5 triệu 5. Canada Không quy định Vừa < 500 DNVVN$ 5-20 triệu 6. New Zealand Nhỏ và vừa < 50 Không quy định Không quy định 7. Korea Nhỏ và vừa < 300 Không quy định Không quy định 8.
Taiwan Nhỏ và vừa < 200 < NT$ 80 triệu < NT$ 100 triệu B. NHÓM CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Không quy 1. Thailand Nhỏ và vừa < Baht 200 triệu Không quy định định 2. Malaysia - Đối với ngành sản xuất 0-150 Không quy định RM 0-25 triệu Peso 1,5-60 3.
Philippine Nhỏ và vừa < 200 Không quy định triệu Không quy 4. Indonesia Nhỏ và vừa < US$ 1 triệu < US$ 5 triệu định 5.Brunei Nhỏ và vừa 1-100 Không quy định Không quy định C. NHÓM CÁC NƯỚC KINH TẾ ĐANG CHUYỂN ĐỔI Nhỏ 1-249 1. Nga Không quy định Không quy định Vừa 250-999 Nhỏ 50-100 2.Trung Quốc Không quy định Không quy định Vừa 101-500 Nhỏ < 50 3.
Ba Lan Không quy định Không quy định Vừa 51-200 Siêu nhỏ 1-10 4. Hungary Nhỏ 11-50 Không quy định Không quy định Vừa 51-250 (Nguồn: 1) Doanh nghiệp vừa và nhỏ, APEC, 1998; 2) Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ, UN/ECE, 1999; 3) Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ, OECD, 2000) Ở Việt Nam, theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp Việt Nam được phân thành 4 nhóm tùy thuộc vào quy mô lao động, vốn và khu vực kinh tế mà họ hoạt động, cụ thể bao gồm: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp lớn. 11 Luan van Bảng 1.2: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Quy mô Khu vực Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Doanh nghiệplớn nghiệpsiêu nhỏ Lao động Vốn Lao động Vốn Lao động Vốn Lao động (ngƣời) (tỷ) (ngƣời) (tỷ) (ngƣời) (tỷ) (ngƣời) I. Khu vực nông, lâm <=10 <=20 Trên 10 Trên 20 Trên 200 Trên 100 Trên 300 nghiệp và thủy sản đến 200 đến 100 đến 300 II.
Khu vực công <=10 <=20 Trên 10 Trên 20 Trên 200 Trên 100 Trên 300 nghiệp và xây dựng đến 200 đến 100 đến 300 III. Khu vực thương <=10 <=10 Trên 10 Trên 10 Trên 50 Trên 50 Trên 100 mại, dịch vụ đến 50 đến 50 đến 100 (Nguồn: Điều 3, Nghị định 56/2009/NĐ-CP) Hiện nay, doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào được phân loại theo nhiều cách khác nhau, tùy theo tính chất hoạt động, ngành kinh tế kỹ thuật, nguồn vốn sở hữu, quy mô doanh nghiệp và tính chất quản lý. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm các quốc gia trên thế giới và đánh giá thực tiễn phát triển kinh tế xã hội của đất nước, ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã hình thành hệ thống tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa: doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có số lao động đến 19 người, số vốn đến 250 triệu kíp, doanh thu đến 400 triệu kíp; doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có số lao động đến 99 người, số vốn đến 1.200 triệu kíp, doanh thu đến 1. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa - Tính chất hoạt động kinh doanh: doanh nghiệp nhỏ và vừa thường tập trung ở nhiều khu vực chế biến và dịch vụ, tức là gần với người tiêu dùng hơn.
Trong đó cụ thể là: i) doanh nghiệp nhỏ và vừa là vệ tinh, chế biến bộ phận chi tiết cho các doanh nghiệp lớn với tư cách là tham gia vào các sản phẩm đầu tư. ii) doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện các dịch vụ đa dạng và phong phú trong nền kinh tế như các dịch vụ trong quá trình phân phối và thương mại hoá, dịch vụ sinh hoạt và giải trí, dịch vụ tư vấn và hỗ trợ. iii) 12 Luan van Trực tiếp tham gia chế biến các sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng với tư cách là nhà sản xuất toàn bộ. Chính nhờ tính chất hoạt động kinh doanh này mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa có lợi thế về tính linh hoạt.