Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài cấp tỉnh. Chương 2: Thực trạng về công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Chương 3: Quan điểm, phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI CẤP TỈNH 1.
Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Khái niệm về doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) ngày nay đã trở thành hình thức đầu tư phổ biến và đã được định nghĩa bởi các tổ chức kinh tế quốc tế cũng như luật pháp của các quốc gia. Xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, FDI nhanh chóng khẳng định được vị trí của mình trong hệ thống các quan hệ kinh tế quốc tế.
Đến nay khi FDI đã trở thành xu hướng của thời đại thì cũng là một nhân tố quan trọng góp phần đẩy mạnh lợi thế so sánh của các nước và mang lại quyền lợi cho cả đôi bên. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới: “FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"”"1 Theo IMF thì: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một tổ chức kinh tế(nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền 1 Trade and foreign direct investment”, 1996 Press releases, WTO 7 kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế đó”1 Trong đầu tư quốc tế cơ bản có 2 loại hình là đầu tư trực tiếp(FDI) hoặc đầu tư gián tiếp nước ngoài(FPI). Xét về bản chất, đầu tư trực tiếp nước ngoài khác với đầu tư gián tiếp nước ngoài ở một số điểm sau: Với FDI, nhà đầu tư vừa là người bỏ vốn, vừa là người trực tiếp quản lý điều hành việc sử dụng vốn của mình và có quyền tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp. Do đó nhà đầu tư đặc biệt quan tâm đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì liên quan trực tiếp đến lợi nhuận của họ.
Hay nói cách khác, quyền sở hữu và quyền sử dụng gắn liền với nhà đầu tư. Lợi ích thu được theo lợi nhuận công ty và được phân chia theo tỷ lệ vốn góp. Trái lại, FPI chỉ đơn thuần là hoạt động bỏ vốn, đầu tư vốn vào doanh nghiệp thông qua việc mua bán chứng khoán hoặc những tài sản có giá khác, nhà đầu tư không có quyền tham dự vào hoạt động của công ty. Lợi nhuận thu được từ việc chia cổ tức hoặc việc bán chứng khoán thu chênh lệch.
Tuy nhiên, nếu nắm giữ một số cổ phần nhất định, FPI có thể chuyển thành FDI, nhà đầu tư có quyền ra quyết định với công ty họ đang bỏ vốn. Đặc điểm nổi bật nhất của FPI là tính bất ổn định. Việc bán chứng khoán diễn ra đơn giản hơn nhiều so với việc hủy bỏ một dự án đầu tư trong đầu tư trực tiếp nước ngoài. Do đó, tốc độ luân chuyển vốn của FPI cao hơn nhiều so với FDI.
Điều này có thể giúp các nền kinh tế mới nổi tăng tính linh hoạt, thúc đẩy quá trình phát triển của mình. Tuy nhiên, trong thời kỳ kinh tế suy thoái, lượng vốn ra và vào quá nhanh lại khiến cho nền kinh tế mất tính cân bằng, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất. Ngược lại, FPI là nguồn bổ sung vốn dài hạn cho nước chủ nhà, không dễ bị rút đi trong thời gian ngắn vì gắn liền với hoạt 1 http://www.org 8 động của dự án. Nước chủ nhà sẽ được tiếp nhận một nguồn vốn lớn bổ sung cho vốn đầu tư trong nước mà không phải lo trả nợ.
FDI không chỉ gắn liền với việc di chuyển vốn mà còn đi kèm với hoạt động chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm, tạo thị trường mới cho cả bên đầu tư và bên tiếp nhận đầu tư. Vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà còn bao gồm cả vốn vay doanh nghiệp để triển khai và mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư trích từ lợi nhuận thu được trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Thông thường, FDI thường đi kèm với ba yếu tố: hoạt động thương mại (xuất, nhập khẩu), chuyển giao công nghệ và di cư lao động quốc tế. Trong khi đó, FPI chỉ đơn thuần là luân chuyển vốn từ nước đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư.
Cuối cùng, để thực hiện được FPI cần có một hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả. Trong khi đó, các nước kém phát triển lại có hệ thống tài chính yếu, nên FPI có xu hướng luân chuyển giữa các nước phát triển với nhau, hoặc giữa nước đang phát triển sang nước phát triển, hơn là luân chuyển sang các nước đang phát triển. Trái lại, FDI có xu hướng chuyển từ nước phát triển sang các nước đang phát triển nhằm tìm kiếm thị trường, nguồn nhân công rẻ và lợi nhuận cao. Tóm lại có thể hiểu theo cách chung nhất: FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó.
Khái niệm về doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài Mặc dù khái niệm FDI được hiểu một cách khá đầy đủ và toàn diện, tuy nhiên hiện nay, doanh nghiệp thế nào được coi là doanh nghiệp FDI ở Việt Nam vẫn là đề tài tranh luận, chưa đưa ra được định danh chính xác. Doanh nghiệp FDI hiểu theo định nghĩa tiếng anh là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực 9 tiếp nước ngoài. Luật đầu tư 2014 không còn quy định về thuật ngữ “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”. Thay vào đó, khoản 17 điều 3 quy định: “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông”.
Từ quy định trên, các văn bản dưới luật hướng dẫn về việc đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài đã có những sự thiếu thống nhất về khái niệm nhà đầu tư nước ngoài. Trong đó, Thông tư 213/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam lại có quy định nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân không mang quốc tịch Việt Nam; tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài; tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn góp nước ngoài; quỹ thành viên, công tỵ đầu tư chứng khoán riêng lẻ mà bên nước ngoài được quyền sở hữu 49% vốn điều lệ; các trường hợp khác do Chính phủ quy định. Tuy vậy, theo quy định của Nghị định 01/2014/NĐ-CP của Chính phủ về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tố chức tín dụng Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài cơ bản giống quy định của Thông tư 213/2012/TT-BTC ở trên. Tuy nhiên lại có một khác biệt cơ bản là tổ chức thành lập và hoạt động ở Việt Nam có tỷ lệ vốn góp của bên nước ngoài trên 49% thì đã có thể được gọi là nhà đầu tư nước ngoài, khác với tỷ lệ 100% theo như Thông tư 213.
Tuy nhiên, tựu chung lại có thể hiểu: “Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (hay còn gọi là doanh nghiệp FDI) là một hình thức tổ chức kinh doanh, trong đó có một bên hoặc các bên mang quốc tịch khác nhau cùng góp vốn, cùng quản lý cơ sở kinh tế đó vì mục tiêu sinh lời, phù hợp với các quy định luật pháp của nước sở tại và thông lệ quốc tế”. Các đặc điểm và hình thức đầu tư của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Các đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp 10 nước ngoài Qua xem xét các định nghĩa về đầu tư nước ngoài có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của đầu tư nước ngoài như sau: Thứ nhất, doanh nghiệp FDI có hoạt động đầu trực tiếp gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư, tức là việc di chuyển tiền, công nghệ và các tài sản khác giữa các quốc gia, hệ quả là việc làm tăng lượng tài sản của nền kinh tế nước tiếp nhận đồng thời làm giảm lượng tài sản của nước đi đầu tư. Thứ hai, doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp liên doanh được thực hiện thông qua việc góp vốn thành lập các doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh BBC, hợp đồng PPP; góp vốn mua cổ phần, phần vốn góp của các doanh nghiệp trong nước.
Thứ ba, doanh nghiệp FDI có chủ sở hữu nguồn vốn đầu tư với một tỷ lệ nhất định trong trường hợp góp một phần vốn hoặc toàn quyền sở hữu khi góp toàn bộ vốn là nhà đầu tư nước ngoài. Thứ tư,doanh nghiệp FDI chịu sự ảnh hưởng của các nền kinh tế trên quy mô toàn cầu, chịu ảnh hưởng của mối quan hệ chính trị giữa các nước. Thứ năm, mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp FDI luôn là vì mục đích lợi nhuận, hoạt động kinh doanh đạt được lợi nhuận cao nhất có thể. Thứ sáu, các nhà đầu tư trực tiếp điều hành và kiểm soát dòng vốn đầu tư kinh doanh đối với doanh nghiệp FDI.
Các hình thức của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài Xét về hình thức sở hữu, đầu tư trực tiếp nước ngoài thường có các hình thức sau: Hình thức doanh nghiệp liên doanh đây là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, hình thức này có đặc trưng là mỗi bên tham gia vào doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân riêng, nhưng doanh nghiệp liên doanh là một 11 pháp nhân độc lập.