CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI CHƯƠNG II: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2011 - 2016 CHƯƠNG IV: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH HÀ TĨNH ĐẾN NĂM 2025 6 CHƯƠNG II CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 2. Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Luật ĐTNN tại Việt Nam (năm 1996) đã nêu: “đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà ĐTNN đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”. Năm 2005, Luật đầu tư được điều chỉnh và đã đưa ra định nghĩa ĐTNN như sau: ĐTNN là việc nhà ĐTNN đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”. Từ khái niệm trên ta thấy đặc điểm của nguồn vốn FDI là: Thứ nhất, chủ đầu tư vốn FDI là chủ sở hữu vốn, là một bộ phận của hình thức chu chuyển vốn quốc tế trong đó chủ đầu tư có quốc tịch nước ngoài, tiến hành đầu tư tại một nước khác vì vậy nhà ĐTNN phải chấp hành luật pháp của nước tiếp nhận đầu tư.
Chủ sở hữu vốn đầu tư trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình sử dụng vốn, có nghĩa vụ và quyền lợi từ hoạt động sản xuất kinh doanh tương ứng với phần vốn góp đó. Trong trường hợp nhà ĐTNN đầu tư dưới hình thức 100% vốn thì có toàn quyền quyết định, nếu góp vốn thì quyền này phụ thuộc vào mức độ góp vốn. Thu nhập từ hoạt động đầu tư này phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả sản xuất kinh doanh, mức độ lãi được chia theo tỷ lệ góp vốn của các bên, nếu bị lỗ thì trách nhiệm của các bên cũng tương ứng với phần góp vốn đó. Thứ hai, vốn FDI không chỉ gồm vốn đầu tư của chủ ĐTNN dưới hình thức vốn điều lệ hoặc vốn pháp định mà nó còn gồm cả vốn vay của các nhà đầu tư để triển khai và mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư được trích lại từ lợi nhuận sau thuế từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vì vậy, nước sở tại phải có chính sách về tài chính phù hợp tránh trường hợp một số nhà ĐTNN lợi dụng chỉ đưa một 7 lượng vốn nhỏ vào còn sau đó tiến hành vay vốn tại nước sở tại để thực hiện đầu tư, mở rộng kinh doanh làm ảnh hưởng đến mục đích thu hút ĐTNN của nước sở tại. Thứ ba, vốn FDI là vốn đầu tư phát triển dài hạn, trực tiếp từ bên nước ngoài vì vậy đối với nước tiếp nhận đầu tư thì đây chính là nguồn vốn dài hạn bổ sung hết sức cần thiết trong nền kinh tế. Vốn FDI là dòng vốn quốc tế gắn liền với việc xây dựng các công trình, nhà máy, chi nhánh sản xuất vì thế thời gian đầu tư dài, lượng vốn đầu tư lớn, có tỉnh ổn định cao tại nước nhận đầu tư. Thứ tư, vốn FDI là hình thức đầu tư trực tiếp của các nhà ĐTNN, họ mang vốn đến nước khác để đầu tư.
Vì vậy, khác với các nguồn vốn vay, vốn FDI tại nước sở tại không phải hoàn trả nợ và cũng không tạo gánh nặng nợ quốc gia, đây là một ưu điểm so với các hình thức ĐTNN khác. Việc mang vốn từ bên ngoài vào đầu tư tại nước sở tại sẽ tạo thêm vốn cho đầu tư, nhất là những nước đang phát triển và vốn này không phải là khoản nợ của quốc gia, sẽ đảm bảo an ninh tài chính cho quốc gia tiếp nhận vốn tốt hơn nhiều so với các khoản vay vốn quốc gia khác. Để được gọi là vốn FDI thì phía nhà ĐTNN phải đóng góp một tỷ lệ nhất định, lượng vốn này tùy theo quy định của từng nước và được thay đổi theo thời gian. Thứ năm, vốn FDI là hình thức xuất khẩu tư bản nhằm thu lợi nhuận cao và các nhà ĐTNN quyết định về quy mô và sử dụng vốn FDI.
Do các nhà ĐTNN luôn hướng tới mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cao nên có thể gây ra nhiều thiệt thòi, tổn thất ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia và mục tiêu thu hút vốn của nước nhận đầu tư.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC): Đây là hình thức liên doanh liên kết giữa một bên là đối tác trong nước với các nhà ĐTNN trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh giữa các bên trong các văn bản ký kết mà không thành lập pháp nhân mới. Hình thức này có đặc điểm là hợp tác kinh doanh của các bên được thực hiện trên cơ sở hợp đồng ký kết trong đó quy định rõ trách nhiệm và phân chia lợi nhuận của các bên, nước nhận đầu tư sẽ phê chuẩn hợp đồng giữa các bên, thời hạn do các bên thỏa thuận. 8 Doanh nghiệp liên doanh: Đây là hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế trong đó có các bên tham gia có quốc tịch khác nhau giữa một bên là nhà đầu tư của nước sở tại và bên còn lại là của đối tác nước ngoài. Hình thức này có đặc điểm là thành lập doanh nghiệp mới theo pháp luật của nước sở tại, có tư cách pháp nhân theo luật của nước chủ nhà, các bên tham gia có quốc tịch khác nhau cùng kết hợp lại trên cơ sở cùng nhau góp vốn, cùng quản lý, cùng phân phối lợi nhuận, cùng nhau chia sẻ rủi ro để tiến hành các hoạt động kinh doanh.
Tỷ lệ góp vốn do các bên thỏa thuận dựa trên cơ sở luật định của nước nhận đầu tư. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Đây là loại hình doanh nghiệp do các nhà ĐTNN bỏ toàn bộ vốn thành lập, tổ chức quản lý và điều hành. Loại hình này có đặc điểm là dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo luật nước chủ nhà, sở hữu hoàn toàn của người nước ngoài, chủ ĐTNN tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh, quyền lợi và nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh thuộc hoàn toàn về nhà ĐTNN nhưng thành lập pháp nhân tại nước sở tại nên chịu sự kiểm soát của pháp luật của nước sở tại. Các hình thức đầu tư vốn FDI khác Hình thức BTO: là hình thức đầu tư giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà ĐTNN để xây dựng các công trình có kết cấu hạ tầng.
Sau khi thực hiện xong, nhà đầu tư chuyển giao lại công trình đó cho nước sở tại. Nhà ĐTNN được kinh doanh công trình đó trong một thời gian nhất định để thu hồi nguồn vốn bỏ ra và lợi nhuận. Hình thức BT: là hình thức đầu tư giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình có kết cấu hạ tầng. Sau khi thực hiện xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho nước sở tại.
Chính phủ nước đó tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi nguồn vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán theo thoả thuận trong hợp đồng BT. Hình thức đầu tư theo hợp đồng đối tác công tư (PPP): PPP là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư nhằm xây dựng công trình, cung cấp dịch vụ với một số tiêu chí riêng. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền 9 sẽ lập danh mục dự án ưu tiên đầu tư PPP hàng năm và tiến hành đấu thầu cạnh tranh để lựa chọn nhà ĐTNN đủ năng lực, kinh nghiệm nhất. Đây là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao, nó sẽ mang lại lợi ích cho cả nhà nước và người dân vì tận dụng được nguồn lực tài chính, quản lý từ nhà đầu tư, trong khi vẫn đảm bảo lợi ích cho người dân.
Mỗi dự án PPP sẽ được hai bên đóng góp theo tỷ lệ góp vốn nhất định, tỷ lệ đóng góp của các bên tùy vào quy định của từng nước và từng thời kỳ. Các hình thức BOT, BTO, BT, PPP rất phù hợp với những nước đang phát triển nơi mà hạ tầng kỹ thuật còn kém và không có đủ vốn để xây dựng. Mỗi hình thức đầu tư của nhà nước ngoài đều có ưu điểm, nhược điểm riêng. Do đó, việc kết hợp hài hòa lợi ích của các bên tham gia đầu tư cũng như phải phù hợp với mục tiêu của từng địa phương sẽ có hình thức đầu tư vốn FDI ưu việt nhất để phát huy được tiềm năng của từng địa phương cũng như đem lại lợi ích cho nhà ĐTNN.
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại địa phương (cấp tỉnh) 2. Khái niệm và đặc điểm của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Thu hút vốn FDI vào địa phương đó chính là việc áp dụng các biện pháp, chính sách để các nhà ĐTNN đem vốn đến đầu tư trực tiếp bằng các hình thức khác nhau phù hợp với lợi ích chung của cả nhà đầu tư và địa phương tiếp nhận. Giai đoạn phát triển kinh tế thời kỳ đầu, các địa phương luôn tìm cách để thu hút lượng vốn FDI càng nhiều càng tốt và như vậy mục tiêu thu hút đó chỉ làm tăng về số lượng dự án, về vốn đăng ký, vốn thực hiện… nhưng chưa quan tâm đến chất lượng dự án và hiệu quả sử dụng vốn FDI. Bước sang thời kỳ mới, việc tiếp tục tìm các biện pháp thu hút vốn FDI vẫn là vấn đề cần thiết và có vai trò quan trọng để bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển.
Tuy nhiên, cần có cách thu hút không những đạt được nhiều nguồn vốn mà cần chú trọng đến những dự án chất lượng không làm ảnh hưởng đến môi trường 10 sinh thái, đưa lại lợi ích cao nhất cho quốc gia. Tăng cường thu hút vốn FDI cần được xem xét dưới giác độ phù hợp với chiến lược kinh tế - xã hội của cả nước, của từng ngành, vùng lãnh thổ và riêng một địa phương cụ thể. Vì vậy, những vấn đề liên quan đến thu hút vốn FDI được đặt ra đó là: - Thu hút vốn FDI có phù hợp với quy hoạch ngành, định hướng phát triển của vùng lãnh thổ và địa phương.