Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam" được nghiên cứu sinh Hoàng Phước Hiệp thực hiện tại Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Lưu Văn Đạt. Luận án thuộc chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp quyền, mã số 5.01, bảo vệ năm 1996 tại Hà Nội.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ đường lối đổi mới kinh tế - xã hội được xác định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó chủ trương mở rộng quan hệ quốc tế, đẩy mạnh thu hút các nguồn lực vốn và công nghệ từ bên ngoài để phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong điều kiện chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, việc nghiên cứu các phương tiện và biện pháp pháp lý nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế đối ngoại trở thành đòi hỏi cấp bách. Tác giả luận án chỉ ra rằng, nếu pháp luật được coi là hiện tượng tĩnh thì cơ chế điều chỉnh pháp luật là một đại lượng động, phản ánh sự vận động thực tế của các quy phạm pháp luật từ khi được ban hành cho đến khi đi vào đời sống xã hội. Khoảng trống nghiên cứu lúc bấy giờ là sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật về cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhằm vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế, vừa bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ quyền quốc gia.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp đổi mới cơ chế này nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu các quan niệm khác nhau về cơ chế điều chỉnh pháp luật trong khoa học pháp lý trong và ngoài nước; xác định nội hàm khái niệm và các đặc trưng cơ bản của cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực FDI tại Việt Nam.
  2. Phân tích các chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về đầu tư nước ngoài, sự phát triển của quan niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai trò của nguồn vốn này trong nền kinh tế quốc dân.
  3. Tổng kết kinh nghiệm bước đầu và phân tích thực trạng vận hành của cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực FDI tại Việt Nam giai đoạn từ sau năm 1975 đến giữa thập niên 1990; luận giải tính tất yếu khách quan của việc tăng cường và đổi mới cơ chế điều chỉnh pháp luật.
  4. Xây dựng hệ thống quan điểm có tính định hướng và đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm đổi mới cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực FDI phù hợp với bối cảnh phát triển mới của đất nước.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật, quan hệ pháp luật và hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thu hút và quản lý FDI. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tập trung tại lãnh thổ Việt Nam; phạm vi thời gian trải dài từ sau ngày giải phóng miền Nam (năm 1975), trọng tâm từ khi ban hành Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977 đến Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 và thực tiễn thi hành, sửa đổi bổ sung đến năm 1996. Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), không đi sâu nghiên cứu đầu tư gián tiếp, đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam hay đầu tư thuần túy trong nước, ngoại trừ việc sử dụng các khái niệm này để so sánh, làm rõ bản chất của FDI.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến pháp luật đầu tư nước ngoài và cơ chế điều chỉnh pháp luật.

Ở trong nước, tác giả liệt kê các bài viết và công trình nghiên cứu của các luật gia Việt Nam như Lưu Văn Đạt, Ngô Bá Thanh, Vũ Huy Từ, Trần Trọng Hựu, Hoàng Thế Liên, Đoàn Năng, Nguyễn Niên, Nguyễn Bá Sơn, Lê Mai Thanh, Nguyễn Trung Tín, Hà Hùng Cường, Nguyễn Anh Tuấn. Tác giả đánh giá rằng các công trình này đã giải quyết những khía cạnh cụ thể, riêng rẽ của pháp luật đầu tư nước ngoài hoặc từng chế định pháp lý chuyên ngành, song chưa có công trình nào tiếp cận một cách trực tiếp, toàn diện dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật đối với cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực FDI.

Ở nước ngoài, vấn đề lý luận về cơ chế điều chỉnh pháp luật đã được nghiên cứu từ sớm, tiêu biểu là các luật gia Liên Xô trước đây. Luận án phân tích các công trình từ thập niên 1930 của P. Stuchka ("Vai trò cách mạng của pháp luật Xô viết"), S. Bratus ("Về vai trò của pháp luật Xô viết trong phát triển quan hệ sản xuất"), tiếp nối qua các nghiên cứu của L.S. Yavich, S.S. Alekseev, V.P. Kazimirchuk, V.M. Gorshenev, Averkin A.A., Culigin P.I., Lunts L.A. Tác giả chỉ ra rằng trong lý luận pháp lý Xô viết tồn tại 3 nhóm quan niệm chính về cơ chế điều chỉnh pháp luật:

  • Nhóm thứ nhất: Coi cơ chế điều chỉnh pháp luật là cơ chế hiệu lực pháp lý đặc thù của quy phạm pháp luật, cấu thành bởi quy phạm pháp luật, quan hệ pháp luật cùng quyền và nghĩa vụ của chủ thể.
  • Nhóm thứ hai: Coi cơ chế điều chỉnh pháp luật bao trùm toàn bộ các phương tiện pháp lý thực hiện sự tác động pháp luật, bao gồm các thành tố của kiến trúc thượng tầng pháp lý.
  • Nhóm thứ ba: Coi cơ chế điều chỉnh pháp luật bao gồm cả ý thức pháp luật, hoạt động lập pháp, thực hiện pháp luật, kết quả điều chỉnh và hệ thống quan hệ phản hồi.

Đối với sách báo pháp lý phương Tây và các tổ chức quốc tế, tác giả khảo cứu quan điểm của các học giả như Julius Stone (Đại học Sydney, nghiên cứu về hiệu quả xã hội thực tế của pháp luật), K. Counter (nghiên cứu về phương pháp luận lý luận pháp luật Anh), Brown (nghiên cứu quy phạm thực chất và quy chế bổ trợ trong quan hệ quốc tế), cùng tài liệu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 1994), Ngân hàng Thế giới (WB), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) và Ủy ban Kinh tế - Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP, 1985).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Các nghiên cứu nước ngoài về pháp luật Việt Nam thường mới dừng lại ở việc phân tích hiện tượng bề ngoài hoặc áp dụng mô hình pháp lý của các nền kinh tế phát triển mà chưa tính đến đặc thù của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam. Do đó, vị trí của luận án là công trình đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu có hệ thống lý luận chung về cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực FDI, kết hợp giữa lý luận Mác - Lênin với thực tiễn lập pháp và quản lý nhà nước của Việt Nam trong giai đoạn đổi mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án được xây dựng trên nền tảng cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật. Tác giả vận dụng các luận điểm kinh điển về tính độc lập tương đối của kiến trúc thượng tầng pháp lý đối với cơ sở hạ tầng kinh tế, về xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế giữa các dân tộc, lý luận về việc áp dụng các hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước và học thuyết Chính sách kinh tế mới (NEP) của V.I. Lênin. Đồng thời, luận án quán triệt các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam (Nghị quyết Đại hội VI, Cương lĩnh năm 1991, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Nghị quyết 19-NQ/TW năm 1984 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 Khóa V năm 1984) và các quy định của Hiến pháp năm 1992 (đặc biệt là Điều 12 về quản lý xã hội bằng pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa).

Về mặt khái niệm, tác giả định vị cơ chế điều chỉnh pháp luật là một hệ thống thống nhất các phương tiện pháp lý đặc thù có quan hệ hữu cơ với nhau, do Nhà nước sử dụng để tác động có chủ đích lên các quan hệ xã hội nhằm thiết lập một trật tự pháp luật nhất định, đưa quy phạm pháp luật thực định vào đời sống thực tế. Cấu trúc cơ bản của cơ chế này gồm 3 bộ phận:

  1. Quy phạm pháp luật.
  2. Chủ thể pháp luật.
  3. Sự kiện pháp lý.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là phương pháp tiếp cận định tính gắn liền với phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp văn bản quy phạm pháp luật: Sử dụng để phân tích các điều luật, xác định nội dung quy phạm, quy chế pháp lý và thẩm quyền cơ quan nhà nước.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quan niệm pháp lý của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển; so sánh các quy định của Điều lệ Đầu tư năm 1977 và Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987.
  • Phương pháp lịch sử: Theo dõi quá trình vận động của chính sách kinh tế đối ngoại và quy định pháp luật về FDI của Việt Nam qua từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
  • Phương pháp xã hội học pháp luật: Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật, thẩm tra, thăm dò và điều tra ý kiến của các nhà quản lý, doanh nghiệp và chuyên gia pháp lý.

Nguồn tư liệu nghiên cứu của luận án bao gồm các văn kiện chính trị của Đảng; hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1996 (Hiến pháp 1992, Điều lệ ban hành kèm Nghị định 115-CP năm 1977, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 và các luật sửa đổi, bổ sung năm 1990, 1992; Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1994); các hiệp định song phương và đa phương; báo cáo chuyên gia của ESCAP; từ điển bách khoa và giáo trình pháp lý trong nước và quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ chế điều chỉnh pháp luật và các đặc trưng của nó trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

Chương 1 (từ trang 4 đến trang 83) tập trung xây dựng cơ sở lý luận về cơ chế điều chỉnh pháp luật và phân tích những đặc thù khi vận dụng vào lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Ở mục 1, tác giả khảo cứu chi tiết các thuật ngữ "cơ chế", "điều chỉnh", "tác động pháp luật" và "cơ chế điều chỉnh pháp luật" trong các hệ thống pháp lý tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Việt. Luận án phân biệt rõ 3 phạm trù có cấp độ bao quát khác nhau:

  • Cơ chế vận hành của pháp luật: Phạm trù rộng nhất, bao gồm toàn bộ các dạng tồn tại và mối liên hệ qua lại của pháp luật với các hiện tượng xã hội từ giai đoạn hình thành đến thực hiện.
  • Cơ chế tác động pháp luật: Phạm trù trung gian, chỉ mọi dạng ảnh hưởng của pháp luật đến xã hội (bao gồm cả chức năng tư tưởng, giáo dục và phòng ngừa).
  • Cơ chế điều chỉnh pháp luật: Phạm trù hẹp và đặc thù, chỉ việc Nhà nước sử dụng các phương tiện pháp lý mang tính quy phạm, bắt buộc chung để định hướng và điều tiết hành vi của các chủ thể.

Tác giả phân tích mối quan hệ giữa cơ chế điều chỉnh pháp luật với các khái niệm pháp lý liên quan:

  • Với hệ thống pháp luật: Pháp luật là cơ sở xuất phát, cung cấp mô hình hành vi chuẩn mực.
  • Với quyền và nghĩa vụ pháp lý: Là sự cụ thể hóa các quy phạm thành hiện thực pháp lý đối với từng chủ thể.
  • Với ý thức pháp luật: Đóng vai trò là môi trường chủ quan, điều kiện tiên quyết bảo đảm cơ chế vận hành đúng đắn. Yếu tố con người (cả người quản lý và người chịu sự quản lý) quyết định hiệu lực thực tế của cơ chế.
  • Với pháp chế xã hội chủ nghĩa: Là "sợi chỉ đỏ xuyên suốt", bảo đảm sự gắn kết, thống nhất và trật tự kỷ cương trong toàn bộ quá trình điều chỉnh.

Ở mục 2, tác giả phân tích các đặc trưng của cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực FDI tại Việt Nam. Luận án phân tích sự phát triển của khái niệm FDI qua các giai đoạn lập pháp:

Tiêu chí Điều lệ Đầu tư nước ngoài (Nghị định 115-CP năm 1977) Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987
Bản chất khái niệm Việc đưa vào sử dụng ở Việt Nam tài sản và vốn quy định tại Điều 2 nhằm xây dựng cơ sở mới hoặc đổi mới kỹ thuật. Việc tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vốn bằng tiền nước ngoài hoặc tài sản được chấp thuận để hợp tác kinh doanh.
Phạm vi vốn/tài sản Giới hạn nghiêm ngặt theo danh mục (máy móc, thiết bị, sở hữu công nghiệp, ngoại tệ chi lương/dịch vụ). Rộng hơn: vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận.
Mục tiêu tiếp nhận Xây dựng cơ sở mới hoặc đổi mới kỹ thuật các cơ sở hiện có; lồng ghép đầu tư tài chính vào đầu tư kỹ thuật. Tiếp thu công nghệ, vốn, kinh nghiệm quản lý, tạo việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu và tham gia phân công lao động quốc tế.
Hình thức đầu tư 3 hình thức: Hợp tác sản xuất chia sản phẩm; Xí nghiệp/công ty hỗn hợp; Xí nghiệp tư doanh chuyên sản xuất hàng xuất khẩu. 3 hình thức: Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng (BCC); Xí nghiệp liên doanh; Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài.

Tác giả chỉ rõ 3 bộ phận cấu thành cơ chế điều chỉnh pháp luật FDI tại Việt Nam gồm: (1) Hệ thống quy phạm pháp luật về đầu tư nước ngoài; (2) Quan hệ pháp luật đầu tư nước ngoài (chứa đựng yếu tố quốc tế, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài và đối tác Việt Nam); (3) Hệ thống các cơ quan Nhà nước trực tiếp quản lý đầu tư nước ngoài (đặc biệt là Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư - SCCI, các Bộ ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh).

Chương 2: Sự hình thành, phát triển của cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và thực trạng của cơ chế điều chỉnh pháp luật đầu tư

Chương 2 (từ trang 84 đến trang 145) phân tích tiến trình lịch sử lập pháp và đánh giá thực trạng vận hành của cơ chế điều chỉnh pháp luật FDI tại Việt Nam.

Giai đoạn hình thành bắt đầu từ sau năm 1975, thể hiện qua việc ban hành Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977 theo Nghị định 115-CP. Tuy nhiên, do hoàn cảnh quốc tế và cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, việc thu hút FDI giai đoạn này đạt kết quả rất hạn chế. Đến năm 1984, Nghị quyết 19 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (Khóa V) đã đặt ra yêu cầu xây dựng đạo luật đầu tư mới có tính hấp dẫn hơn. Tháng 2/1985, Tiểu ban nghiên cứu và xây dựng Luật Đầu tư được thành lập do Giáo sư Lưu Văn Đạt phụ trách, có sự tham khảo kinh nghiệm các nước trong khu vực và báo cáo tư vấn của chuyên gia ESCAP (tháng 5 và tháng 7/1985). Ngày 29/12/1987, Quốc hội thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đánh dấu bước phát triển căn bản về lý luận và thực tiễn lập pháp kinh tế đối ngoại.

Về thực trạng, luận án đánh giá cơ chế điều chỉnh pháp luật FDI đã tạo hành lang pháp lý ban đầu cho việc ký kết và triển khai các dự án FDI, góp phần huy động vốn ngoại tệ, chuyển giao công nghệ và tạo việc làm. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành cũng bộc lộ nhiều điểm hạn chế:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa đồng bộ, còn thiếu các đạo luật cơ bản về kinh doanh, thương mại, đất đai, thuế và lao động để làm bệ đỡ cho Luật Đầu tư nước ngoài.
  • Quy trình thẩm định, cấp phép và quản lý dự án còn rườm rà, tồn tại hiện tượng chồng chéo chức năng giữa Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư với các Bộ chủ quản và Ủy ban nhân dân địa phương.
  • Đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật còn hạn chế về kiến thức pháp lý quốc tế, trình độ ngoại ngữ và kỹ năng quản lý kinh tế thị trường.
  • Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài chưa hoàn thiện, hiệu lực thi hành các phán quyết trọng tài và tòa án còn gặp nhiều vướng mắc.

Chương 3: Phương hướng đổi mới cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài trong điều kiện hiện nay của nước ta

Chương 3 (từ trang 146 đến trang 164) trình bày các mục tiêu, quan điểm chỉ đạo và hệ thống giải pháp nhằm đổi mới toàn diện cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực FDI.

Mục tiêu của việc đổi mới là hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đồng bộ, minh bạch, có tính dự đoán cao và phù hợp với thông lệ quốc tế; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia; bảo đảm giữ vững chủ quyền quốc gia và định hướng xã hội chủ nghĩa.

Quan điểm chỉ đạo đổi mới gồm:

  • Quán triệt đường lối phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
  • Kết hợp hài hòa giữa việc bảo đảm môi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn với việc bảo vệ an ninh kinh tế, môi trường và trật tự xã hội.
  • Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa pháp luật điều chỉnh đầu tư nước ngoài với hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động kinh tế trong nước.

Hệ thống giải pháp và kiến nghị được luận án đề xuất bao gồm:

  • Hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật: Tập trung nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 (chuẩn bị cho đợt sửa đổi toàn diện năm 1996); đồng thời khẩn trương ban hành và hoàn thiện các luật liên quan như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai.
  • Cải cách thủ tục hành chính và bộ máy quản lý: Tinh gọn quy trình cấp giấy phép đầu tư, thực hiện nguyên tắc "một cửa" trong thẩm định dự án; phân định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước giữa cơ quan trung ương (Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư / Bộ Kế hoạch và Đầu tư) và chính quyền địa phương.
  • Hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp: Nâng cao năng lực của Trọng tài kinh tế/Trọng tài quốc tế Việt Nam, mở rộng quyền lựa chọn cơ quan tài phán và luật áp dụng của các bên theo nguyên tắc tư pháp quốc tế.
  • Nâng cao năng lực yếu tố con người và pháp chế: Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp lý và kinh tế đối ngoại cho đội ngũ công chức; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giữ vững pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý FDI.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã tự tổng kết những đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

Về mặt khoa học:

  • Đây là công trình đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu một cách có hệ thống về cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới góc độ chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp quyền tại Việt Nam.
  • Luận án đã khái quát hóa và làm sáng tỏ cấu trúc 3 thành tố cơ bản của cơ chế điều chỉnh pháp luật FDI (quy phạm pháp luật, chủ thể pháp luật, sự kiện pháp lý) và mối liên hệ biện chứng giữa chúng với ý thức pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa.
  • Luận giải cơ sở lý luận khoa học cho việc phân biệt giữa "tác động pháp luật", "điều chỉnh pháp luật" và "vận hành của pháp luật", làm rõ sự chuyển biến từ mô hình kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong tư duy pháp lý kinh tế đối ngoại.

Về mặt thực tiễn:

  • Phân tích và hệ thống hóa thực tiễn lập pháp và thi hành pháp luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam từ năm 1977 đến năm 1996, chỉ rõ những mặt được và hạn chế của khung pháp luật hiện hành.
  • Cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn phục vụ trực tiếp cho việc sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 (dự thảo Luật sửa đổi năm 1996) và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Đề xuất các giải pháp cải cách hành chính trong quản lý FDI, phân định thẩm quyền quản lý nhà nước và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư có yếu tố nước ngoài.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án xác định rõ các giới hạn nghiên cứu xuất phát từ mục tiêu và phạm vi đề tài:

  • Luận án chỉ tập trung nghiên cứu cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam (inward FDI); không đặt tham vọng phân tích, đánh giá toàn diện về đầu tư gián tiếp (portfolio investment), đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài (outward FDI) cũng như cơ chế điều chỉnh đầu tư thuần túy trong nước.
  • Các phân tích thực tiễn và số liệu dự án phản ánh tình hình quản lý đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong khuôn khổ giai đoạn từ sau năm 1975 đến giữa thập niên 1990 (thời điểm chuẩn bị sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996).

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ luận án bao gồm: Tiếp tục nghiên cứu cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với các hình thức đầu tư gián tiếp qua thị trường chứng khoán, đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam, và sự tương thích của hệ thống pháp luật đầu tư Việt Nam với các cam kết quốc tế song phương và đa phương trong quá trình hội nhập sâu rộng hơn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật: Tham khảo phương pháp tiếp cận lý luận Nhà nước và Pháp quyền đối với một lĩnh vực pháp luật kinh tế chuyên ngành; tham khảo khung lý thuyết về cơ chế điều chỉnh pháp luật và các phân tích cấu trúc quy phạm - chủ thể - sự kiện pháp lý.
  • Giảng viên các trường đại học và cơ sở nghiên cứu: Sử dụng tài liệu Chương 1 để biên soạn giáo trình, bài giảng chuyên đề về Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Tư pháp quốc tế, Luật Đầu tư và Luật Kinh tế quốc tế.
  • Nhà hoạch định chính sách, cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước (Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Chính phủ, các cơ quan Tòa án, Trọng tài): Tham khảo các luận cứ lịch sử, kinh nghiệm lập pháp giai đoạn 1977–1987–1996 và các giải pháp hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính trong quản lý đầu tư nước ngoài.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ chế điều chỉnh pháp luật theo quan niệm của tác giả luận án gồm những bộ phận cấu thành cơ bản nào? Theo tác giả luận án, cơ chế điều chỉnh pháp luật là một hệ thống thống nhất các phương tiện pháp lý đặc thù do Nhà nước sử dụng để tác động có chủ đích lên quan hệ xã hội. Cơ chế này được cấu thành từ 3 bộ phận cơ bản: (1) Quy phạm pháp luật; (2) Chủ thể pháp luật; (3) Sự kiện pháp lý. Các yếu tố bổ trợ bao gồm hành vi thực hiện pháp luật của cá nhân và hành vi áp dụng pháp luật, duy trì trật tự pháp luật của cơ quan Nhà nước.

2. Khái niệm FDI trong Điều lệ Đầu tư năm 1977 khác với Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 ở những điểm cốt lõi nào? Trong Điều lệ năm 1977 (Nghị định 115-CP), FDI bị giới hạn nghiêm ngặt theo danh mục tài sản/vốn đưa vào Việt Nam nhằm mục đích xây dựng cơ sở mới hoặc đổi mới trang bị kỹ thuật (đầu tư tài chính phải lồng ghép vào đầu tư kỹ thuật). Đến Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 (Điều 2 khoản 3), khái niệm FDI được mở rộng và hoàn thiện hơn: Là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ chấp thuận để hợp tác kinh doanh theo 3 hình thức (Hợp đồng hợp tác kinh doanh, Xí nghiệp liên doanh, Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài).

3. Luận án phân biệt giữa "tác động pháp luật" và "điều chỉnh pháp luật" như thế nào? Tác giả phân định: "Tác động pháp luật" là khái niệm rộng hơn, chỉ mọi hướng và hình thức ảnh hưởng của pháp luật lên đời sống xã hội (bao gồm cả tính quy phạm, bắt buộc chung lẫn tính tư tưởng, giáo dục). Trong khi đó, "điều chỉnh pháp luật" là sự tác động đặc thù của Nhà nước, sử dụng các quy phạm pháp luật và phương tiện pháp lý bắt buộc chung để đưa các hành vi xử sự của chủ thể tuân theo một trật tự xác định phù hợp với ý chí của Nhà nước.

4. Ai là người phụ trách trực tiếp Tiểu ban nghiên cứu và xây dựng Luật Đầu tư nước ngoài năm 1985 được nêu trong luận án? Theo tư liệu tại trang 39 của luận án, Tiểu ban nghiên cứu và xây dựng Luật Đầu tư được thành lập vào tháng 2 năm 1985 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ, do Giáo sư Lưu Văn Đạt trực tiếp phụ trách, với sự tham gia của đại diện nhiều bộ, ngành hữu quan và sự hỗ trợ tư vấn chuyên gia của ESCAP (tháng 5 và tháng 7/1985).

5. Vì sao tác giả luận án coi pháp chế xã hội chủ nghĩa là "sợi chỉ đỏ xuyên suốt" cơ chế điều chỉnh pháp luật? Luận án chỉ rõ pháp chế xã hội chủ nghĩa giữ vai trò liên kết toàn bộ các yếu tố của cơ chế điều chỉnh pháp luật thành một thể thống nhất. Nhờ có pháp chế, các quy phạm pháp luật, thẩm quyền của cơ quan quản lý và quyền, nghĩa vụ của các chủ thể mới được thực thi nghiêm chỉnh, bảo đảm cho toàn bộ cơ chế vận hành nhịp nhàng nhằm đạt được mục tiêu quản lý xã hội và duy trì trật tự pháp luật đã đề ra.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Hoàng Phước Hiệp là công trình khoa học pháp lý có hệ thống đầu tiên tại Việt Nam giải quyết vấn đề cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới lăng kính Lý luận Nhà nước và Pháp quyền. Bằng phương pháp tiếp cận định tính kết hợp phân tích chuẩn tắc và khảo cứu lịch sử lập pháp, tác giả đã làm rõ bản chất động của cơ chế điều chỉnh pháp luật và cấu trúc 3 thành tố cơ bản trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các kết quả nghiên cứu và đề xuất trong luận án không chỉ phản ánh quá trình chuyển đổi tư duy pháp lý kinh tế đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1977–1996 mà còn đóng góp luận cứ trực tiếp cho việc hoàn thiện thể chế quản lý FDI trong thời kỳ đổi mới.