CHƯƠNG 1 Tác giả đã trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu đề tài và đặt ra các câu hỏi nghiên cứu, xác định phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và trình bày sơ lược bố cục của bài luận văn. 8 CHƯƠNG 2 FDI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á 2. LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP TỪ NƯỚC NGOÀI 2. KHÁI NIỆM Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Có rất nhiều khái niệm về đầu tư trực tiếp từ nước ngoài: Theo luật đầu tư Việt Nam (2005): Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư tham gia quản lý hoạt động đầu tư (Mục 2 – Điều 3). Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn vào Việt Nam bằng tiền mặt hoặc bất cứ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này. Theo WTO: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty". Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.
Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì FDI được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản 9 lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (i) Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; và (iv) cấp tín dụng dài hạn (>5 năm). UNCTAD xác định, FDI là một hoạt động đầu tư mang tính dài hạn nhằm thu về những lợi ích và sự kiểm soát lâu dài bởi một thực thể (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) của một đất nước trong một doanh nghiệp (chi nhánh ở nước ngoài) ở một nước khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế ấy. Định nghĩa này không cho chúng ta biết chính xác một việc đầu tư là gì.
Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài được thực hiện theo hai kênh: đầu tư mới (Greenfield investment) và kênh mua lại sáp nhập (Mergers and Acquisitions). Đầu tư mới là việc các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài bằng việc xây dựng thành lập doanh nghiệp mới – đây là kênh đầu tư truyền thống của các nhà đầu tư ở các nước phát triển đầu tư và các nước đang phát triển. Ngược lại, đầu tư M&A là kênh đầu tư mà nhà đầu tư tiến hành mua lại hoạc sáp nhập vào các công ty đã có sẵn ở nước ngoài – kênh đầu tư thường được thực hiện ở các nước phát triển, các nước đang công nghiệp hóa và đang phổ biến trong thời gian gần đây. Xét về mục đích đầu tư thì FDI có 2 hình thức đầu tư là đầu tư theo chiều dọc và đầu tư theo chiều ngang.
Đầu tư theo chiều dọc (Vertical intergration) là hình thức đầu tư mà các nhà đầu tư đi chuyên sâu và một hay vài mặt hàng – những mặt hàng này nhà đầu tư sản xuất từ A đến Z, hình thức này được đầu tư nhằm vào việc khai thác nguồn nguyên liệu tự nhiên và đánh vào các yếu tố đầu vào giá rẻ (như nhân công, mặt bằng, đất đai…), ưu điểm của hình thức này là lợi nhuận cao nhưng rủi ro cũng khá cao và thị trường không rộng. Đầu tư theo chiều ngang (Horizontal Intergration) là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư mở rộng và thôn tính thị trường nước ngoài cùng một loại sản phẩm cạnh tranh ở 10 nước ngoài dẫn đến độc quyền sản phẩm, ưu điểm của hình thức này là nhà đầu tư đánh được trên diện rông, rủi ro thấp nhưng lợi nhuận không cao. Vai trò của FDI Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, FDI đóng vai trò trên cở sở đem lại lợi ích cho cả 2 bên đó là nước đầu tư và nước nhận đầu tư. Sau đây là những phân tích vai trò đối xứng của cả hai bên.
Đối với nước đi đầu tư Đầu tiên, các nước đi đầu tư có thể tận dụng được lợi thế của các nước nhận đầu tư. Bằng việc đầu tư ra nước ngoài họ nhận về được tỷ suất lợi nhuận cao hơn trong nước thông qua việc tận dụng lợi thế về chi phí sản xuất thấp (nguồn nhân công giá rẻ, nguyên vật liệu rẻ do khai thác tại chỗ do các nước nhận đầu tư đề là các nước có nguồn nhiên liệu dồi dào nhưng do các hạn chế về trình độ kỹ thuật nên không được khai thác hết) từ đó giá thành sản phẩm hạ, giảm chi phí vận chuyển. Thứ hai, thông qua việc chuyển giao công nghệ kéo dài được tuổi thọ sản phẩm. Thông qua việc đầu tư sang nước ngoài, các công ty ở các nước phát triển chuyển giao được một số lượng lớn máy móc, thiết bị ở giai đoạn cuối chu kỳ sang các nước được đầu tư để tiếp tục sử dụng chúng như thiết bị mới nhờ đó mà duy trì được việc sử dụng các sản phẩm này đem lại thêm phần lợi nhuận cho nhà đầu tư.
Điều thứ ba, thông qua đầu tư sang nước ngoài các nhà đầu tư có thể mở rộng thị trường. Thêm nữa các nhà đầu tư còn có thể tránh được hàng rào mậu dịch của các nước nhận đầu tư do xuát khẩu phần lớn thiết bị máy móc sang đây và do chính sách ưu đãi của các nước đang phát triển có chính sách ưu đãi để khuyến khích đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nên việc xuất khẩu sản phẩm từ các nước này, nhờ đó mà giá thành sản phẩm được giảm, tăng thêm sức cạnh tranh với các nước khác. 11 Cuối cùng, với việc đi đầu tư vào các nước đang phát triển và nhập khẩu sản phẩm đó về nước với số lượng lớn sẽ làm cho đồng nội tệ tăng. Điều này ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ.
Đối với nước nhận đầu tư FDI là nguồn vốn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt vốn đầu tư, góp phần làm tăng trưởng và phát triển kinh tế.Đối với các nước đang phát triển việc tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài làm tăng cả lượng cung và lượng cầu trong nước. Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng thu nhập, trình độ cho người lao động, phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống cộng đồng cư dân sinh sống tại quốc gia đó. Đầu tư nước ngoài sẽ làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đầu tư sẽ góp phần giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những nước kém phát triển thoát khỏi nghèo đói.
Nhờ vào FDI mà các nước đang phát triển có thể phát huy tối đa lợi thế về tài nguyên môi trường, địa lý, kinh tế…Cơ cấu ngành, cơ cấu công nghệ, cơ cấu lao động, cơ cấu lãnh thổ sẽ thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp góp phần đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Cuối cùng, đầu tư sẽ làm tăng cường khả năng khoa học công nghệ của quốc gia. Thông qua đầu tư nước ngoài các nước đi đầu tư đã chuyển giao công nghệ của nước mình hoặc của nước khác sang các nước nhận đầu tư. Mặc dù còn nhiều hạn chế khách quan và chủ quan nhưng chúng ta không thể phủ nhận rằng nhờ sự chuyển giao này mà các nước nhận đầu tư đã nhận được công nghệ tiên tiến, cùng theo đó là trình độ quản lý, kinh nghiệm lao động được đào tạo, rèn luyện được nhiều mặt.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT FDI có thể ra đời từ rất lâu nhưng từ sau thế chiến thứ II thì các nhà nghiên cứu mới đi vào nghiên cứu sâu lý thuyết về loại hình đầu tư này khi mà vai trò của các nhà đầu tư trở nên mạnh mẽ trong những giai đoạn năm 1950, 1960. Các thuyết khá nổi bật được kể đến là: thuyết vòng đời sản phẩm của Vernon, lý thuyết nội bộ hóa và lý thuyết chiết trung của Dunning về FDI.1 Lý thuyết về vòng đời sản phẩm của Raymond Vernon (1966) Năm 1966 Raymond Vernon là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về vòng đời sản phẩm. Vernon chia vòng đời sản phẩm ra thành 4 giai đoạn: đổi mới (Innovation), phát triển (Growth), bão hòa (maturity) và cuối cùng là suy thoái (decline). Lý thuyết của ông dựa trên những quan sát thực tế là trong suốt thế kỷ XX một tỷ lệ rất lớn các sản phẩm mới của thế giới đã được phát triển bởi các công ty Hoa Kỳ và được tiêu thụ ban đầu tại thị trường Hoa Kỳ (ví dụ như sản xuất ô tô ở quy mô công nghiệp, máy thu hình, máy ảnh chụp lấy ngay, máy photocopy, máy tính cá nhân, và các chíp bán dẫn).
Để giải thích thực tế này, Vernon lập luận rằng sự thịnh vượng và quy mô của thị trường Hoa Kỳ đã mang lại cho các công ty Hoa Kỳ một động lực rất lớn đề phát triển các sản phẩm tiêu dùng mới. Thêm vào đó, chi phí nhân công cao ở Hoa Kỳ cũng khiến cho các công ty Hoa Kỳ có lý do để sáng chế ra các quy trình công nghệ tiết kiệm chi phí sản xuất.