Mở đầu Chƣơng 2: Những vấn đề lý luận về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Chƣơng 3: Thực trạng đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trên địa bàn tỉnh Oudomxay. Chƣơng 4: Giải pháp thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trên địa bàn tỉnh Oudomxay giai đoạn 2016-2020. 6 CHƢƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 2.
BẢN CHẤT CỦA ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 2. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) là một hoạt động kinh tế đối ngoại ra đời muộn hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác vài ba thập kỷ, nhƣng từ khi mới xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XIX, FDI đã có vị trí đáng kể trong quan hệ kinh tế quốc tế. Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của quan hệ kinh tế quốc tế, hoạt động FDI không ngừng mở rộng và chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong các quan hệ kinh tế này. Cho đến nay FDI đã trở thành xu thế tất yếu của thời đại và một nhân tố quy định bản chất của các quan hệ kinh tế quốc tế.
Có nhiều tổ chức kinh tế đã đƣa ra khái niệm về FDI. Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF thì: FDI là một hoạt động đầu tƣ đƣợc thực hiện nhằm đạt đƣợc những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nƣớc chủ đầu tƣ, mục đích của chủ đầu tƣ là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. Khái niệm này nhấn mạnh tới động cơ kinh doanh của nhà đầu tƣ và phân biệt với đầu tƣ gián tiếp nhờ đặc điểm nhà đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài có quyền trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn trong Doanh nghiệp FDI (khái niệm này nhìn nhận dƣới góc độ của nhà đầu tƣ). Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài phản ánh mục tiêu có đƣợc lợi ích lâu dài của nhà đầu tƣ (chủ đầu tƣ trực tiếp) tại nền kinh tế của một quốc gia khác (nƣớc nhận đầu tƣ) ngoài quốc gia mình (nƣớc chủ đầu tƣ).
Lợi ích lâu dài ngụ ý sự tồn tại của một mối quan hệ lâu dài giữa chủ đầu tƣ với các doanh nghiệp và mức độ ảnh hƣởng của việc quản lý doanh nghiệp. Đầu tƣ trực tiếp bao gồm cả những giao dịch ban đầu của các chủ thể và các giao dịch vốn tiếp theo giữa họ và giữa các doanh nghiệp trực thuộc dƣới hình thức hợp nhất hoặc chƣa hợp nhất. [OECD,1996] 7 Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đưa ra định nghĩa nhƣ sau: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài xảy ra khi một nhà đầu tƣ từ một nƣớc (nƣớc chủ đầu tƣ) có đƣợc một tài sản ở một nƣớc khác (nƣớc thu hút đầu tƣ) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phƣơng diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn trƣờng hợp, cả nhà đầu tƣ lẫn tài sản mà ngƣời đó quản lý ở nƣớc ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong trƣờng hợp đó nhà đầu tƣ thƣờng hay đƣơc gọi là “công ty mẹ” và các tài sản đƣợc gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”. Theo Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Lào "Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Lào vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tƣ theo quy định của Luật đầu tƣ Lào". Khái niệm này đề cập nhiều đến đối tƣợng của quá trình đầu tƣ.
Đó không đơn thuần là sự chu chuyển tài chính quốc tế, mà kèm theo nó có thể là sự chuyển giao công nghệ hay có tài sản vô hình khác (khái niệm này nhìn nhận dƣới góc độ của nƣớc tiếp nhận đầu tƣ) Từ những khái niệm nêu trên, có thể đƣa ra một khái niệm ngắn gọn và tƣơng đối dễ tiếp cận nhƣ sau: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là hoạt động đầu tƣ do các tổ chức kinh tế và cá nhân nƣớc ngoài tự mình, hoặc cùng với các tổ chức kinh tế của nƣớc sở tại bỏ vốn vào một đối tƣợng nhất định, trực tiếp quản lý và điều hành để thu lợi, đƣợc tiến hành thông qua các dự án Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là hoạt động đầu tƣ do các tổ chức kinh tế và cá nhân nƣớc ngoài tự mình, hoặc cùng với các tổ chức kinh tế của nƣớc sở tại bỏ vốn vào một đối tƣợng nhất định, trực tiếp quản lý và điều hành để thu lợi, đƣợc tiến hành thông qua các dự án. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển tƣ bản giữa các quốc gia, chủ yếu do các pháp nhân hoặc thể nhân thực hiện theo những hình thức nhất định trong đó chủ đầu tƣ tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tƣ. Khác với hoạt động đầu tƣ nói chung, đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) có điểm nổi bật là chủ đầu tƣ có quốc tịch khác nhau. Hoạt động đầu tƣ của họ đƣợc tiến hành thông qua các dự án FDI.
Trong các dự án này, nhà đầu tƣ nƣớc ngoài trực tiếp quản lý và điều hành một phần, hoặc toàn bộ dự án (tuỳ thuộc vào mức độ góp 8 vốn của chủ đầu tƣ) để đạt đƣợc mục đích của họ trong khuôn khổ pháp luật nƣớc sở tại. Nhƣ vậy, theo các tổ chức kinh tế thế giới, khái niệm về FDI về cơ bản là giống nhau và không có sự mâu thuẫn. Nói một cách khác, FDI là một loại di chuyển vốn quốc tế dài hạn trong đó chủ vốn đầu tƣ cũng đồng thời là ngƣời tham gia trực tiếp quản lý điều hành hoạt động sử dụng đồng vốn của mình nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. Về bản chất, đây là hình thức xuất khẩu tƣ bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá.
Các đặc trưng cơ bản của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI chủ yếu là đầu tƣ tƣ nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận (theo cách phân loại ĐTNN của UNCTAD, IMF và OECD, FDI là đầu tƣ tƣ nhân) FDI không để lại gánh nặng nợ nần cho Chính Phủ nƣớc tiếp nhận đầu tƣ nhƣ hỗ trợ phát triển chính thức( ODA) hoặc các hình thức đầu tƣ nƣớc ngoài khác nhƣ vay thƣơng mại,phát hành cổ phiếu ra nƣớc ngoài… Khi thực hiện hình thức đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài,các nhà đầu tƣ tự bỏ vốn kinh doanh,trực tiếp điều hành sản xuất kinh doanh và hoàn toàn tự chịu trách nhiệm về kết quả đầu tƣ. Nƣớc tiếp nhận FDI ít phải chịu các điều kiện ràng buộc kèm theo của ngƣời cung ứng vốn nhƣ tiếp nhận ODA. Do vậy FDI là hình thức thu hút và sử dụng vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tƣơng đối ít rủi ro cho nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Đây là điều nhiều nƣớc đang phát triển và chậm phát triển rất quan tâm,vì khả năng trả nợ của họ thƣờng là yếu kém,trong khi đó sử dụng hình thức đầu tƣ này còn giúp họ khai thác đƣợc tối đa nguồn lực của đất nƣớc về tài nguyên,con ngƣời… Các nƣớc nhận đầu tƣ, nhất là các nƣớc đang phát triển cần lƣu ý điều này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hƣớng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của nƣớc mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tƣ.
Các chủ đầu tƣ nƣớc ngoài phải góp một số vốn tối thiểu vào vốn pháp định, tùy theo luật đầu tƣ nƣớc ngoài. Quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn. Đối với doanh nghiệp liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh thì 9 quyền quản lý doanh nghiệp và quản lý đối tƣợng hợp tác tùy thuộc vào mức vốn góp của các bên khi tham gia, còn đối với doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài thì ngƣời nƣớc ngoài (chủ đầu tƣ) có quyền quản lý hoàn toàn doanh nghiệp. Lợi nhuận của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và đƣợc phân chia theo tỷ lệ góp vốn.
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đƣợc thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn liền với chuyển giao công nghệ, chuyền giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý và tạo ra thị trƣờng mới cho cả phía đầu tƣ và phía nhận đầu tƣ. Nhà đầu tƣ cùng với việc đƣa vốn còn đƣa cả công nghệ, bí quyết công nghệ, kỹ năng tiếp thị, quản lý, đào tạo nhân công và các năng lực trong sản xuất kinh doanh cũng nhƣ trong vấn đề quản lý doanh nghiệp cho nƣớc tiếp nhận vốn. Vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tƣ ban đầu của chủ đầu tƣ dƣới hình thức vốn pháp định mà nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai và mở rộng dự án cũng nhƣ vốn đầu tƣ trích từ lợi nhuận thu đƣợc trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Thông thƣờng, đi kèm với dự án FDI là ba yếu tố: hoạt động thƣơng mại (xuất, nhập khẩu), chuyển giao công nghệ và di cƣ lao động quốc tế. Di cƣ lao động quốc tế cũng góp phần vào việc chuyển giao kỹ năng quản lý của doanh nghiệp FDI. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Chính sách về FDI của mỗi quốc gia tiếp nhận đầu tƣ thể hiện chính sách mở cửa và quan điểm hội nhập quốc tế về đầu tƣ, đây đƣợc coi là nhân tố kéo.
Mặt khác, các công ty đa quốc gia, trong chiến lƣợc phát triển của mình sẽ mở rộng phạm vi hoạt động khi có điều kiện phù hợp. Thông qua tiếp nhận FDI,nƣớc tiếp nhận đầu tƣ có điều kiện thuận lợi để gắn kết nền kinh tế trong nƣớc với hệ thống sản xuất,phân phối,trao đổi quốc tế,thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các nƣớc này.