phần mở đầu, kết cấu của luận văn bao gồm 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nguồn nhân lực chất lƣợng cao trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng về quản lý nguồn nhân lực chất lƣợng cao của tỉnh Nam Định trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Chƣơng 4: Giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nguồn nhân lực chất lƣợng cao của tỉnh Nam Định trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa 4 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1.1 Tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Vấn đề nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực cho CNH, HĐH nói riêng, trong những năm gần đây đã đƣợc nhiều ngƣời quan tâm nghiên cứu: Vũ Hy Chƣơng, (Chủ nhiệm - 2002), đề tài: Đánh giá, dự báo triển vọng và những giải pháp cơ bản tạo nguồn lực để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đề tài Khoa học xã hội. Đề tài đã đánh giá nguồn nhân lực của đất nƣớc ta, chỉ ra những điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhân; dự báo những yếu tố tác động đến sự phát triển của nguồn nhân lực và những triển vọng phát triển nguồn nhân lực trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, đề xuất phƣơng hƣớng và hệ giải pháp cơ bản khá toàn diện, trong đó nhấn mạnh đến giải pháp giáo dục và đào tạo nhằm tạo ra nguồn nhân lực để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Nguyễn Hữu Tiệp, (2010), Giáo trình nguồn nhân lực, Nhà xuất bản Lao động - xã hội, Hà Nội.
Giáo trình trình bày một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực, nhƣ khái niệm, tiêu chí, phân loại, những yếu tố chi phối đến nguồn nhân lực; trình bày vấn đề giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực, quản lý, bố trí, sử dụng, trọng dụng, các chính sách, cơ chế đối với nguồn nhân lực của đất nƣớc. Lê Thị Hồng Điệp, (2005), Luận án Tiến sĩ Kinh tế chính trị, Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, Trung tâm đào tạo bồi dƣỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học Quốc gia, Hà Nội. Luận án trình bày những khái niệm cơ bản nhƣ: nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lƣợng cao, đặc điểm nguồn nhân lực chất lƣợng cao của nƣớc ta, vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao; phân tích những vấn đề gia tăng dân số, cơ cấu nguồn nhân lực, tỷ lệ nhân lực khoa học công nghệ, đặc điểm, yêu cầu của kinh tế tri thức đối với nguồn nhân lực chất lƣợng cao; đề xuất những giải pháp cơ 5 bản nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam. Chu Văn Cấp, (2012), Bài báo Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần phát triển bền vững Việt Nam, đã trực tiếp bàn về những vấn đề lý luận, thực tiễn cơ bản của việc phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao góp phần phát triển bền vững Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời kiến nghị một số giải pháp cho vấn đề này.
Đảng Cộng sản Việt Nam, (2008), Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa X “Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc”, Hà Nội. Đây là một Nghị quyết chuyên đề của Đảng về xây dựng đội ngũ trí thức - lực lƣợng quan trọng trong nguồn nhân lực chất lƣợng cao thời kỳ mới, cung cấp những quan điểm và cơ sở lý luận, chính trị, tƣ tƣởng rất cơ bản, mà việc nghiên cứu luận cứ này cần phải quán triệt và làm chỗ dựa. Nghị quyết đƣa ra cách tiếp cận nghiên cứu, xem xét và chỉ ra khái niệm trí thức; nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ trí thức trong quá trình cách mạng; phân tích thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam, chỉ rõ những hạn chế, yếu kém và nhƣợc điểm của đội ngũ này; những hạn chế, bất cập trong công tác giáo dục - đào tạo, trong công tác trí thức; chỉ rõ mục tiêu, quan điểm, đề ra những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Nguyễn Văn Khánh, (chủ biên), (2012), Sách Nguồn lực trí tuệ Việt Nam, lịch sử, hiện trạng và triển vọng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Cuốn sách trình bày khái niệm nguồn lực trí tuệ, phát huy nguồn lực trí tuệ; kinh nghiệm xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ một số nƣớc trên thế giới và Việt Nam; đánh giá lịch sử và thực trạng nguồn lực trí tuệ Việt Nam trên các lĩnh vực; phân tích những yếu tố tác động đến sử dụng nguồn lực trí tuệ, chỉ ra những thuận lợi, khó khăn và triển vọng phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam hiện nay. Phạm Tất Dong, (2005), Đề tài Luận cứ khoa học cho các chính sách nhằm phát huy năng lực lao động sáng tạo của giới trí thức và sinh viên, Đề tài khoa học 6 cấp Bộ, Hà Nội. Đây là đề tài trực tiếp bàn về cơ sở với tƣ cách là luận cứ khoa học xác định và thực hiện chính sách phát huy năng lực lao động sáng tạo của trí thức và sinh viên. Đề tài đã phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng năng lực lao động sáng tạo, chỉ rõ những thiếu hụt của trí thức và sinh viên nƣớc ta; phân tích những yếu tố tác động đến năng lực lao động sáng tạo của họ; đề xuất các chính sách, nhấn mạnh thực thi chính sách giáo dục và đào tạo nhằm phát huy năng lực lao động sáng tạo của lực lƣợng này với tƣ cách là một bộ phận trọng yếu trong nguồn nhân lực chất lƣợng cao của đất nƣớc.
Lê Quang Hùng, (2011), Luận án Tiến sĩ Phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, Viện Chiến lƣợc phát triển. Tiếp cận dƣới góc độ kinh tế, Luận án đã trình bày tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; đánh giá thực trạng gồm ƣu điểm, nhƣợc điểm, nguyên nhân của nguồn nhân lực chất lƣợng cao nơi đây; chỉ ra một số yêu cầu, giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao ở vùng kinh tế trọng điểm ở miền Trung, đặc biệt nhấn mạnh đến giáo dục - đào tạo. Đề tài khoa học cấp Bộ, (2006): Nguồn nhân lực chất lượng cao: Hiện trạng phát triển, sử dụng và các giải pháp tăng cường, Viện chiến lƣợc phát triển - Bộ kế hoạch và đầu tƣ. Đề tài tập trung phân tích thực trạng của nguồn nhân lực chất lƣợng cao ở Việt Nam và từ đó đƣa ra các giải pháp để phát triển nguồn nhân lực.
Chuyên đề “Phát huy nhân tố con người để phát triển bền vững” của Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ƣơng, (2010), Chuyên đề tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc phát triển nhân tố con ngƣời; đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam, qua đó đƣa ra những kiến nghị nhằm thúc đẩy phát triển nhân tố con ngƣời trong thời gian tới. Nguyễn Ngọc Tú, (2012), Nhân lực chất lượng cao của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế. Trong luận án, tác giả đã nhấn mạnh tới vai trò quan trọng hàng đầu của nhân lực chất lƣợng cao trong phát triển kinh tế- xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Nhân lực chất lƣợng cao là sự cần thiết khách quan trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhƣ vậy, việc phát triển nhân lực chất lƣợng cao trong 7 tƣơng lai, phải hƣớng vào phát triển nhân lực có trình độ Cao đẳng, Đại học (CĐ, ĐH), nhân lực quản lý hành chính Nhà nƣớc, nhân lực khoa học công nghệ và phát triển đội ngũ giáo viên CĐ, ĐH. Đây là khâu đột phá nhằm thực hiện thắng lợi quá trình hội nhập. Ngoài ra các nhà khoa học, nhà nghiên cứu cũng đã có nhiều bài viết đăng trên tạp chí Cộng sản, tạp chí Quản lý kinh tế. Nhƣng nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên, chủ yếu là đề cập nhiều đến nguồn nhân lực chất lƣợng cao cho các khu công nghiệp, các thành phố lớn, các tỉnh đồng bằng, đề cập đến việc quản lý nguồn nhân lực chất lƣợng cao làm cơ sở cho việc thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH nói chung.
Về quản lý nguồn nhân lực chất lƣợng cao cho CNH, HĐH của tỉnh Nam Định chƣa có nghiên cứu chuyên sâu, vì vậy việc nghiên cứu đề tài này ở đây vẫn còn là vấn đề mới và cấp thiết.2 Khái niệm, tiêu chí và các thành phần của nguồn nhân lực chất lƣợng cao trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Đối với nƣớc ta, CNH, HĐH là con đƣờng tất yếu để thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và phát triển nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng Chủ nghĩa xã hội (CNXH). Để tiến hành CNH, HĐH cần phải có các nguồn lực cần thiết bao gồm nguồn lực con ngƣời; nguồn lực đất đai, tài nguyên; nguồn lực tài chính; nguồn lực khoa học công nghệ… Trong đó nguồn lực con ngƣời, hay nguồn nhân lực là quan trọng nhất. Trong nền kinh tế nào cũng vậy, nguồn nhân lực bao giờ cũng giữ vai trò quyết định đối với các hoạt động sản xuất - kinh doanh. Ngay cả trong nền kinh tế kém phát triển, sản xuất còn mang nặng tính tự cấp, tự túc, trình độ hiểu biết của con ngƣời còn thấp, thì con ngƣời vẫn là nhân tố hàng đầu quyết định sự phát triển kinh tế.I Lênin viết "Con ngƣời là lực lƣợng sản xuất hàng đầu của xã hội" [21].
Khi nền kinh tế thế giới đang dần chuyển sang nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra hết sức nhanh chóng thì vai trò quyết định của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế lại càng rõ nét hơn. Hiện nay, có nhiều định nghĩa về nguồn nhân lực. 8 Trong Báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về tác động của toàn cầu hoá với nguồn nhân lực cho rằng “nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nƣớc”.