CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN 1. Khái quát về Ngân sách Nhà nước 1. Khái niệm Nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực thực hiện chức năng duy trì và phát triển xã hội, thường quy định các khoản thu mang tính bắt buộc các đối tượng trong xã hội phải đóng góp nhằm đảm bảo chi tiêu cho bộ máy Nhà nước, quân đội, cảnh sát, giáo dục. Ngân sách Nhà nước là một phạm trù kinh tế, lịch sử, trải qua nhiều giai đoạn phát triển của xã hội, khái niệm về Ngân sách Nhà nước được đề cập trên nhiều góc độ khác nhau.
Về hình thức, các khái niệm này có sự khác nhau nhất định, tuy nhiên, các khái niệm đó đều phản ánh về các kế hoạch, dự toán thu, chi của Nhà nước trong một thời gian nhất định với hình thái biểu hiện là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước và Nhà nước sử dụng quỹ tiền tệ tập trung đó để trang trải cho chi tiêu gồm: chi cho hoạt động của bộ máy Nhà nước, chi cho an ninh - quốc phòng, chi cho an sinh xã hội. Ở Việt Nam, Điều 1 Luật ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 quy định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Chức năng của Ngân sách Nhà nước Ngân sách Nhà nước có những chức năng cơ bản sau: 7 - Cùng với các công cụ khác của Nhà nước, ngân sách nhà nước là một công cụ ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chống lạm phát và giảm thất nghiệp. - Chức năng phân bổ nguồn lực trong xã hội: Để tạo lập và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, thông qua các biện pháp thu, chi và quản lý ngân sách nhà nước, nhà nước thực hiện phân bổ nguồn lực vào những lĩnh vực địa bàn then chốt, có nhiều rủi ro, cần khuyến khích hoặc hạn chế phát triển; đồng thời có thể thu hút, lôi kéo sự tham gia phân bổ nguồn lực của các thành phần kinh tế và khu vực tư nhân.
- Chức năng phân phối lại thu nhập trong xã hội: Nhà nước thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập dưới hình thức tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm hạn chế bớt sự phân hoá xã hội, sự bất bình đẳng về thu nhập đảm bảo sự công bằng hợp lý, làm cho nguồn thu nhập của xã hội được sử dụng một cách kịp thời hiệu quả. Thông qua công cụ thuế và công cụ chi tiêu. Nhà nước sẽ thực hiện được các mục tiêu trên. - Chức năng điều chỉnh kinh tế: Chính sách ngân sách nhà nước là một bộ phận không thể tách rời của chính sách kinh tế - xã hội.
Khi nền kinh tế suy thoái người ta thường khuyến cáo dùng chính sách tài khoá kích cầu bằng cách giảm thuế hoặc tăng chi tiêu công, từ đó làm tăng khối lượng sản xuất xã hội. Khi nền kinh tế phát triển bình thường, trong điều kiện mở cửa thì chính sách tài khoá kích thích sẽ tạo nên phản ứng dây chuyền: chính sách tài khoá kích thích nới lỏng với mục đích tăng tổng cầu, mức lãi suất trong nước tăng, giá đồng nội tệ tăng, thuần xuất khẩu giảm, tổng cầu giảm. Như vậy, trước mắt chính sách tài khoá có thể kích thích tổng cầu có tác động đến tăng trưởng kinh tế, nhưng về lâu dài lại kìm hãm chính quá trình tăng trưởng. Đòi hỏi các nhà hoạch địch chính sách tài chính nói chung và chính sách tài khoá nói riêng phải tính đến việc sử dụng công cụ ngân sách nhà nước một cách thích hợp trong quá trình điều chỉnh nền kinh tế.
8 Bốn chức năng nói trên có mối quan hệ rất gắn bó, phản ảnh được bản chất hoạt động của ngân sách nhà nước trong quá trình tạo lập, khai thác động viên, phân bổ, tổ chức huy động các nguồn vốn cũng như tham gia kiểm soát, điều chỉnh kinh tế vĩ mô. Vai trò của Ngân sách Nhà nước Vai trò của ngân sách Nhà nước luôn gắn liền với vai trò của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định. Về cơ bản, Ngân sách Nhà nước có những vai trò sau: - Ngân sách Nhà nước là kế hoạch tài chính vĩ mô trong các kế hoạch tài chính của Nhà nước để quản lí các hoạt động kinh tế - xã hội. Ngân sách Nhà nước nó có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề tài chính vĩ mô, các cân đối vĩ mô của nền kinh tế; quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo từng giai đoạn tăng trưởng, bù đắp cho những khiếm khuyết của thị trường, kích thích tăng trưởng kinh tế và chống lạm phát.
- Ngân sách Nhà nước là quĩ tiền tệ tập trung lớn của Nhà nước có nguồn hình thành là từ GDP và các nguồn tài chính khác được sử dụng cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. – Ngân sách Nhà nước là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính công. Việc sử dụng ngân sách Nhà nước có ý nghĩa quốc gia với phạm vi tác động lớn và chủ yếu cho các nhu cầu có tính chất toàn xã hội. - Ngân sách Nhà nước Góp phần khai thác, huy động các nguồn tài chính, đảm bảo nhu cầu chi của Nhà nước theo mục tiêu đã định.
Phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước Việc phân cấp Ngân sách được cụ thể hoá trong Luật Ngân sách Nhà nước. Đối với Việt Nam, hệ thống Ngân sách Nhà nước được tổ chức thành hai cấp: Ngân sách trung ương và Ngân sách địa phương. Phân cấp quản lý 9 Ngân sách Nhà nước là xác định phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền Nhà nước các cấp trong việc quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ thu chi của ngân sách. Đây là cách tốt nhất để gắn các hoạt động của Ngân sách Nhà nước với các hoạt động kinh tế - xã hội ở từng địa phương một cách cụ thể, nhằm tạo sự chủ động và nâng cao tính tự chủ của từng địa phương với mục tiêu tập trung đầy đủ, kịp thời, đúng chính sách, đúng chế độ các nguồn tài chính quốc gia và phân phối, sử dụng công bằng, hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả cao phục vụ các mục tiêu được hoạch định.
Mỗi cấp chính quyền đều có nhiệm vụ cần đảm bảo bằng nguồn tài chính nhất định khi được đề xuất và bố trí chi tiêu sẽ có hiệu quả hơn là sự áp đặt từ trên xuống. Xét về điều kiện thực tế, cần có chính sách và biện pháp nhằm khuyến khích chính quyền các địa phương phát huy tính độc lập, tự chủ, sáng tạo của địa phương, chủ động khai thác triệt để các nguồn thu để đáp ứng một cách tốt nhất nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, từ đó giảm dần nguồn hỗ trợ của ngân sách từ cấp trên, góp phần giảm bội chi ngân sách nhà nước, đẩy lùi lạm phát và các hiện tượng tiêu cực khác. Phân cấp quản lý và phân cấp ngân sách cũng đã được các cấp có thẩm quyền triển khai thực hiện và đang tiếp tục hoàn chỉnh. Nội dung thu - chi Ngân sách Nhà nước a) Thu ngân sách Nhà nước Các khoản thu ngân sách nhà nước được quy định cụ thể tại Điều 2 Nghị định 163/2016/NĐ-CP như sau: - Thuế do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của các luật thuế.
- Lệ phí do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của pháp luật. - Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện; trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ. 10 - Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện, sau khi trừ phân được trích lại để bù đắp chi phí theo quy định của pháp luật. - Các khoản nộp ngân sách Nhà nước từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, gồm: + Lãi được chia cho nước chủ nhà và các khoản thu khác từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu, khí; + Các khoản thu hồi vốn của Nhà nước đầu tư tại các tổ chức kinh tế; + Thu cổ tức, lợi nhuận được chia tại các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có vốn góp của Nhà nước; + Thu phần lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ của doanh nghiệp nhà nước; + Chênh lệch thu lớn hơn chi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; + Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (bao gồm cả gốc và lãi), trừ vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ.
- Huy động đóng góp từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật. - Thu từ bán tài sản nhà nước, kể cả thu từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất do các cơ quan, đơn vị, tổ chức của Nhà nước quản lý. - Tiền sử dụng đất; tiền cho thuê đất, thuê mặt nước; tiền sử dụng khu vực biển; tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước. - Thu từ tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước; thu cấp quyền khai thác khoáng sản, thu cấp quyền khai thác tài nguyên nước.
- Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, phạt, tịch thu khác theo quy định của pháp luật. - Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. 11 - Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Nhà nước, Chính phủ Việt Nam, cho cơ quan nhà nước ở địa phương. - Thu từ quỹ dự trữ tài chính theo quy định tại Điều 11 Luật Ngân sách nhà nước 2015.
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.