Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 1. Khái niệm môi trường, quản lý môi trường và pháp luật về quản lý môi trường 1. Khái niệm môi trường Môi trường là một khái niệm rất rộng và đa dạng. Tùy thuộc vào cách tiếp cận, phương pháp và phạm vi nghiên cứu mà có các khái niệm về môi trường khác nhau.
Tuy nhiên, đều hướng tới việc xác định rõ môi trường xung quanh ta là gì, do các yếu tố nào hợp thành. Qua nghiên cứu, có những khái niệm, định nghĩa về môi trường đáng chú ý như sau: Môi trường theo định nghĩa thông thường là “Toàn thể hoàn cảnh xã hội xung quanh có ảnh hưởng tới sinh vật” [7]; môi trường là “Toàn bộ những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển, trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy” [6]. Môi trường trong mối quan hệ tương quan với hệ sinh thái là “Tập hợp tất cả các điều kiện và hiện tượng bên ngoài tác động lên cá thể” [16, tr.14], đồng thời tác giả luận giải rằng khí quyển, thủy quyển, thạch quyển tồn tại trước khi sự sống xuất hiện trên hành tinh chúng ta, nhưng chỉ khi các cơ thể sống xuất hiện mới gọi chung là môi trường, có nghĩa chỉ có cơ thể sống mới có môi trường. Môi trường không chỉ gồm các điều kiện vật lý mà còn gồm cả các sinh vật cùng sống.
Từ góc độ nghiên cứu về quản lý môi trường, có tác giả đã đưa ra khái niệm “Môi trường là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, có ảnh hưởng tới con người và tác động qua lại với các hoạt động sống của con người như không khí, nước, đất, sinh vật, xã hội loài người…” [8]. Để giải quyết vấn đề quản lý chất lượng môi trường, một số tác giả đã xác định “Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần vật chất bao quanh ta, 8 Luan van được hình thành do quá trình tự nhiên hoặc được tạo ra bởi con người, có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật. Môi trường được chia làm hai loại là môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo” [12, tr. Trong lĩnh vực khoa học pháp lý thì “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [14, tr.
Như vậy, có thể hiểu rằng môi trường là tổng thể các yếu tố tự nhiên (có sẵn, không do con người tạo ra: đất, nước, hệ động, thực vật, ánh sáng, không khí…) và các yếu tố nhân tạo (do con người tạo ra để thỏa mãn các nhu cầu của mình: nhà máy sản xuất các loại sản phẩm, trang trại chăn nuôi, đường sá, cầu cống, phương tiện đi lại…) bao quanh con người, tác động đến sự tồn tại và phát triển của con người, sinh vật; giữa con người và môi trường luôn có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó con người đóng vai trò là trung tâm của mối quan hệ. Môi trường tác động tích cực hay tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của con người đều phụ thuộc vào hành động và thái độ đối xử của con người đối với môi trường. Môi trường quan trọng là vậy, nhưng hiện trạng môi trường đang có những thay đổi theo chiều hướng ngày càng bất lợi đối với sự tồn tại và phát triển của con người, đặc biệt là các yếu tố mang tính tự nhiên như đất, nước, không khí, hệ động vật, hệ thực vật… và sự thay đổi này đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu cũng như trong phạm vi từng quốc gia. Hiện trạng môi trường ở Việt Nam vừa có những đặc điểm chung của môi trường thế giới, vừa có những đặc điểm riêng do điều kiện, hoàn cảnh lịch sử phát triển đất nước qua các thời kỳ.
Việc môi trường bị hủy hoại do nhiều yếu tố khác nhau, trong số đó phải kể đến các yếu tố như việc xả các loại chất thải, khí thải không qua xử lý ra môi trường, tình trạng chặt phá rừng, khai thác tài nguyên bừa bãi, quá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp… 9 Luan van Vấn đề suy thoái, ô nhiễm môi trường và những hậu quả, thiệt hại nghiêm trọng mà nó mang lại đã buộc các quốc gia phải có những biện pháp, công cụ hữu hiệu để quản lý, bảo vệ môi trường như chính trị, kinh tế, pháp luật, khoa học - công nghệ, giáo dục…, trong đó pháp luật là công cụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc quản lý, bảo vệ môi trường. Khái niệm quản lý môi trường, đặc điểm quản lý môi trường 1. Khái niệm quản lý môi trường Khi đề cập tới vai trò của quản lý trong xã hội, C.Mác đã khẳng định: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên một quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng [28, tr.
Trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế, đồng thời đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó. Hoạt động quản lý gắn liền với sự hình thành và phát triển của các tổ chức trong xã hội và để hoạt động quản lý có thể diễn ra thì bên cạnh chủ thể quản lý cần có các yếu tố khác như đối tượng quản lý và những mục tiêu mà hoạt động quản lý hướng tới. Mặc dù, hiện nay có nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau về thuật ngữ quản lý. Tuy nhiên, theo cách hiểu thông thường và phổ biến thì quản lý là sự tác động một cách có tổ chức và có định hướng của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt những mục tiêu nhất định đã đề ra.
10 Luan van Quản lý môi trường thực chất là một khía cạnh trong hoạt động quản lý xã hội, nhưng đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa, khái niệm thống nhất về quản lý môi trường. Theo Từ điển bách khoa toàn thư mở: Quản lý môi trường là hoạt động có mục đích nhằm duy trì và cải thiện trạng thái của nguồn tài nguyên môi trường không bị ảnh hưởng bởi hoạt động của con người. Đây thực chất là sự điều tiết tác động xã hội của con người vào môi trường để đảm bảo rằng các hệ sinh thái được bảo vệ và duy trì sử dụng công bằng giữa các thế hệ. Thông qua việc xem xét các khía cạnh liên quan bao gồm khía cạnh đạo đức, kinh tế, khoa học… để tìm ra yếu tố cốt lõi của xung đột từ đó đưa ra biện pháp điều chỉnh phù hợp [8, tr.
Theo một số tác giả là người Việt Nam “Quản lý môi trường là quản lý nhà nước về môi trường và quản lý của các doanh nghiệp, khu dân cư về môi trường” [5, tr. Trong đó, nội dung thứ hai có mục tiêu chủ yếu là tăng cường hiệu quả của hệ thống sản xuất (hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000) và bảo vệ sức khỏe của mọi người sinh sống, làm việc trong khu vực chịu ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất. Quản lý môi trường là việc sử dụng tổng hợp mọi biện pháp thích hợp nhằm tác động và điều chỉnh các hoạt động của con người, với mục đích là giữ hài hòa mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, bảo đảm đáp ứng nhu cầu của con người nhưng cũng đồng thời bảo đảm chất lượng của môi trường, bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường, hướng tới sự phát triển bền vững. Hay nói một cách khác: Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội; có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài 11 Luan van nguyên.
Quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, xã hội, văn hóa, giáo dục… Các biện pháp này có mối liên hệ chặt chẽ, đan xen và hỗ trợ lẫn nhau tùy theo tính chất, quy mô của vấn đề đặt ra cần phải giải quyết [5, tr. Phân tích định nghĩa trên, có thể thấy rằng mục tiêu sâu xa của quản lý môi trường là hướng tới sự phát triển bền vững mà thực chất là bảo đảm cân bằng giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Nói cách khác, phát triển kinh tế, xã hội tạo ra tiềm lực để bảo vệ môi trường, còn bảo vệ môi trường tạo ra tiềm năng tự nhiên và xã hội mới cho công cuộc phát triển kinh tế, xã hội trong tương lai. Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và những ưu tiên trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia mà mục tiêu quản lý môi trường có thể thay đổi.
Đặc điểm quản lý môi trường * Cơ sở khoa học của quản lý môi trường: Một là, cơ sở triết học về nguyên lý thống nhất của thế giới vật chất, mà ở đây, tự nhiên, con người và xã hội có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành một hệ thống thống nhất và tuân theo một chu trình sinh - địa - hóa cơ bản, trong đó yếu tố con người giữ vai trò chủ đạo. Xuất phát từ tính thống nhất hệ thống này, đòi hỏi việc giải quyết các vấn đề môi trường và thực hiện công tác quản lý môi trường phải mang tính toàn diện, hệ thống và phù hợp với trình độ phát triển của mỗi quốc gia, khu vực.