Mở đầu cuốn sách Lễ hội cổ truyền Hà Tây như tác giả đã từng đề cập có viết: Lễ hội cổ truyền là một thuộc tính của văn hóa người Việt, là nhu cầu không thể thiếu được trong tư duy và sinh hoạt của nhân dân, nhất là ở nông thôn. Người nông dân quanh năm lao động vất vả, một nắng hai sương, vì vậy lễ hội được coi như yếu tố tạo ra sự thư giãn tinh thần, là sự biểu hiện cách ứng xử văn hóa với thiên nhiên, thần thánh và xã hội, cộng đồng. Con người có thể tìm thấy chính mình sự hồn nhiên, hưng phấn nghệ thuật, những cảm xúc chất phác, ngây thơ khi tự nguyện tham gia vào lễ hội [40, tr. Có rất nhiều những lễ hội khác nhau của các dân tộc anh em cùng trải dài trên mảnh đất hình chữ S từ Bắc vào Nam, nhưng hầu hết các lễ hội truyền thống của dân tộc ta đều được bắt nguồn từ nông nghiệp.
Đó là một phần xuất thân từ chính nền văn hóa với truyền thống lâu đời trồng lúa nước của người Việt. Một phần từ vị trí địa lí, không gian diễn xướng, diễn ra đều xuất phát từ những vùng nông thôn gắn bó mật thiết với văn hóa làng, hay những vị thần được sinh ra từ trong làng, là người con của làng đã có công lao nhất định nào đó với dân làng, với đất nước và người dân Việt Nam thường có truyền thống “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Trích đoạn mà một tác giả đã viết trong bài giới thiệu chung về văn hóa truyền thống trên báo mạng Vietnamtourish.com: 11 Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hóa, là sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử. Người Việt Nam từ hàng ngàn đời nay có truyền thống “uống nước nhớ nguồn”.
Lễ hội là sự kiện thể hiện truyền thống quý báu đó của cộng đồng, tôn vinh những hình tượng thiêng, được định danh là những vị thần – những người có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại [47]. Dân tộc ta vẫn có những lễ hội truyền thống lớn nhất cả nước trong năm như ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, thời gian đó tất cả người dân Việt Nam đều được nghỉ ngơi và chuẩn bị cho ngày Giỗ của Vua Hùng, có câu thơ rằng: “Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba”. Đây là một lễ hội lớn, có ý nghĩa nhất đối với dân tộc ta, bởi giá trị nhân văn, nhân đạo hướng về cuội nguồn, nhấn mạnh giá trị sâu sắc của lễ hội. Lễ hội truyền thống là một cụm danh từ đã được rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa khác nhau, nhưng dù theo định nghĩa của nhà nghiên cứu nào, tác giả đều đồng ý với quan điểm cho rằng: Lễ hội truyền thống chính là lễ hội cổ đã có từ lâu đời, mang giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc, có giá trị nghệ thuật riêng và được lưu truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ năm này qua năm khác, giống như một quy luật của tự nhiên mà không làm biến đổi giá trị đầu tiên của nó.
Từ những định nghĩa và cách phân tích về vị trí, vai trò của lễ hội truyền thống cần khẳng định phải có sự quản lý các lễ hội truyền thống một cách nghiêm túc, có hệ thống, có kế hoạch. Lễ hội truyền thống hiện nay là những lễ hội xưa nhưng đang sống trong xã hội mới - xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giao lưu và hội nhập quốc tế. Không chỉ có kinh tế mà 12 văn hóa cũng đang mở cửa dưới nhiều hình thức, trên các phương diện có quy mô, tầm cỡ khác nhau, là một điều kiện thuận lợi, là đòn bẩy phát triển nền kinh tế, văn hóa con người đưa chúng ta tiến đến gần với bạn bè năm châu. Tuy nhiên, đó cũng là một thách thức lớn để bảo vệ và phát huy được các lễ hội truyền thống hòa nhập vào với xã hội công nghiệp, đang từng bước phát triển mà không làm mất đi bản sắc và các gía trị riêng của mỗi lễ hội.
Để đáp ứng được nhu cầu đặt ra, cần có một lực lượng cụ thể, với phương thức quản lý chặt chẽ, bài bản, có hệ thống để nhằm duy trì và phát triển các lễ hội cổ truyền phù hợp với điều kiện thay đổi của xã hội cùng với nền kinh tế mở cửa thị trường hiện nay. Quản lý và quản lý lễ hội * Khái niệm Quản lý Đầu thế kỷ XX nhà văn quản lý Mary Parker Follett định nghĩa quản lý là: “nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác”. Người ta nhấn mạnh đến từ chuyên môn “quản lý thường là tổ chức kinh tế” theo tôi nó hoàn toàn chính xác, trong kinh tế và nhất là một tổ chức kinh tế càng lớn thì vai trò của sự quản lý càng trở nên quan trọng, cần sự chặt chẽ và chính xác. Để phát huy được giá trị của ngành quản lý, người ta cũng nói “quản lý là một đặc trưng cho quá trình điều khiển và hướng dẫn của một tổ chức” nói chung.
Vì vậy đối với một tập thể, một tổ chức bắt đầu có quy mô thì nên có sự quản lý nhất định dành riêng cho tổ chức đó, điều đó dần đã đi vào thực tế xã hội như một sự căn bản của thuyết quản lý. Theo Từ điển Tiếng Việt, quản lý là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Quản lý là chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội) đảm bảo thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó… Do tính chất 13 lao động của con người, quản lý tồn tại trong mọi xã hội, ở bất kì lĩnh vực nào và trong bất cứ giai đoạn phát triển nào. Quản lý là một khoa học, dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển của các đối tượng khác nhau, quy luật tự nhiên và quy luật xã hội, đồng thời, quản lý còn là một nghệ thuật, đòi hỏi nhiều kiến thức xã hội, tự nhiên hay kỹ thuật… những hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liền với hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch, và được thực hiện qua những thể chế xã hội đặc biệt [23, tr.
Các Mác thì cho rằng: “Quản lý là chức năng xã hội đặc biệt, nảy sinh từ nền sản xuất”. Quản lý là một sự sắp xếp và chỉ đạo xử lý, đích thực đó là một ngành khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật. Theo Mai Hữu Luân định nghĩa trong Lý luận hành chính nhà nước: “Quản lý là hoạt động nhằm tác động có tổ chức của các chủ thể vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người nhằm duy trì sự ổn định và sự phát triển của đối tượng theo những mục đích nhất định” [22, tr. Còn rất nhiều những định nghĩa nổi tiếng khác nhau về cụm từ “quản lý”, đây là một khái niệm rộng, mỗi khái niệm của các tác giả đưa ra đều có những điểm mạnh khác nhau, đi theo định nghĩa nào tùy thuộc vào cách cá nhân nhìn nhận.
Từ các định nghĩa trên hiểu một cách đơn giản thì quản lý là những hoạt động có chủ thể tác động là con người, tác động lên đối tượng nào đó mà chủ thể muốn điều chỉnh và nắm bắt được theo ý của mình cho phù hợp với mục đích đặt ra trước đó. * Khái niệm Quản lý lễ hội Đối với những khái niệm chung như chúng ta đã biết, có không ít những định nghĩa khác nhau của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, ta chỉ lấy một vài khái niệm cơ bản nhất để hiểu thế nào là quản lý lễ hội. Đây cũng 14 là một lĩnh vực quan trọng trong công tác quản lý, không những bởi phạm vi rộng lớn mà chính vai trò và tầm quan trọng của quản lý lễ hội ngày càng cao, thu hút được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước.
Quản lý lễ hội bao gồm quản lý nhà nước và những hình thức quản lý khác đối với hoạt động lễ hội. Quản lý lễ hội nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển được hiểu là sự tổ chức, huy động các nguồn lực. Nói cách khác thì quản lý lễ hội nhằm các mục tiêu vì lợi ích công cộng, mục tiêu lợi nhuận hoặc các xu hướng phát triển đất nước [33, tr. 16,17] Cụm từ “quản lý” được dùng phổ biến hơn trong chuyên ngành kinh tế.
Tuy nhiên, đối với lĩnh vực văn hóa, chuyên ngành về quản lý văn hóa cũng đang được quan tâm và chú trọng từ Đảng, Nhà nước và BVHHTT & DL, Bộ Giáo dục, điều đó được thể hiện qua các trường đại học đang quan tâm, nhiều trường đã xin mở thêm chuyên ngành quản lý văn hóa. Nền văn hóa phong phú của Việt Nam đang đứng trước nhiều nguy cơ mai một và mất dần bản sắc… Chính vì thế quản lý lễ hội nói chung đang là lĩnh được quan tâm, có tác giả đã định nghĩa như sau: Quản lý lễ hội nói chung và quản lý lễ hội truyền thống nói riêng được hiểu là: Quá trình sử dụng các công cụ quản lý như chính sách, pháp luật, các nghị định, chế tài, tổ chức bộ máy vận hành và các nguồn lực để kiểm soát, can thiệp vào các hoạt động của lễ hội bằng các phương thức tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra, giám sát, nhằm duy trì hệ thống chính sách, hệ thống các văn bản pháp quy, chế tài của nhà nước đã ban hành. Làm cho lễ hội được vận hành theo đúng quy luật của văn hóa, nội dung của lễ hội phải phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nội dung của phần hội phải phù hợp và mang lại lợi ích sinh hoạt cho cộng đồng hiện tại. Quản lý lễ hội là quá trình thực hiện bốn công đoạn: Xác định nội dung và phương 15 thức tổ chức; xây dựng kế hoạch; tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện, tổng kết, đúc kết kinh nghiệm [33, tr.
Như vậy, có thể hiểu là mục tiêu của vấn đề quản lý cần được xác định cho phù hợp với quy luật khách quan nhằm đạt được hiệu quả tối đa nhất, cụ thể ở đây là vấn đề quản lý lễ hội.