phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương như sau: 13 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh Trình bài các khái niệm quản lý, quản lý Nhà nước về văn hóa và khái niệm lễ hội, lễ hội truyền thống, quản lý lễ hội truyền thống, vai trò ý nghĩa của lễ hội truyền thống. Khái quát về thành phố Cao Lãnh. Thống kê, phân loại lễ hội truyền thống thông qua việc giới thiệu một số lễ hội tiêu biểu ở thành phố Cao Lãnh. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh Trình bài về tổ chức bộ máy và cơ cấu nhân sự trong các cơ quan quản lý Nhà nước về lễ hội; cơ chế hoạt động, quản lý của cộng đồng, quản lý của Ban quản lý di tích và Ban tổ chức lễ hội.
Đồng thời nói về hoạt động quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh, từ những thực trạng đó có sự nhìn nhận đánh giá những ưu điểm và hạn chế của công tác quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh trong thời gian qua. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh Trình bài định hướng và các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống ở thành phố Cao Lãnh, giúp hoạt động quản lý và tổ chức lễ hội truyền thống đi vào nề nếp và dần hoàn thiện hơn nữa trong thời gian tới. 14 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở THÀNH PHỐ CAO LÃNH 1. Khái niệm Quản lý Thuật ngữ “Quản lý” có nhiều cách diễn đạt khác nhau: “Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người; còn theo nghĩa hẹp, quản lý là sự sắp đặt, trông nom công việc” [61, tr.
Có thể thấy trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển, đều phải tuân thủ và chịu một sự quản lý nào đó. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Trình độ xã hội hóa càng cao, thì yêu cầu quản lý càng cao và vai trò của nó càng tăng lên.
Chính vì vậy: “Quản lý là một hoạt động nhằm đảm bảo sự vận hành của một hệ thống, một tổ chức một cách liên tục, đúng chức năng. Ngoài ra, khái niệm quản lý còn được hiểu như là một công việc nhằm tạo ra sự thống nhất ý chí, các hoạt động trong tổ chức cụ thể” [61, tr. Theo tác giả các hoạt động quản lý bao giờ cũng có các yếu tố sau: Chủ thể, khách thể và mục tiêu của quản lý. - Chủ thể quản lý: Là cá nhân, hoặc tổ chức tạo ra các tác động quản lý, tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ khác nhau, với những phương pháp khác nhau, sao cho thích hợp để mang lại hiệu quả.
- Khách thể quản lý: Là đối tượng chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản lý. 15 - Mục tiêu quản lý: Là cái đích cần phải đạt được, tại một thời điểm nhất định nào đó, do chủ thể quản lý định trước, là căn cứ để chủ thể quản lý lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp với từng đối tượng. Quản lý là một hoạt động rất phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Các yếu tố đó tác động đến nội dung, phương thức và công cụ để tiến hành quản lý.
Vậy, để quản lý tốt một đối tượng, đòi hỏi người quản lý phải nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đã đề ra. Quản lý phải là một quá trình diễn ra lâu dài, để hướng xã hội phát triển theo những mục tiêu nhất định, chứ không phải là hành động tức thời, chớp nhoáng. Về cơ bản, trong xã hội, quản lý có hai ngạch khác nhau, đó là: quản lý trong tự nhiên và quản lý trong xã hội. Trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ nghiên cứu phạm vi quản lý trong xã hội, mà đối tượng chính cần quản lý là quản lý hoạt động văn hóa - quản lý lễ hội.
Khái niệm và nội dung quản lý Nhà nước về văn hóa 1. Khái niệm Chúng ta hiểu rằng văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhờ lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình. Văn hóa biểu hiện trình độ phát triển mà xã hội đạt được trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Cho nên theo Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [69, tr.
Vì vậy, quản lý nhà nước về văn hóa là sự tác động của Nhà nước đối với văn hóa thông qua tổ chức điều khiển mọi hoạt động của văn hóa nhằm điều chỉnh, hoàn thiện và phát triển nó trong quá trình xây dựng xã hội [73, tr. Ngoài ra, quản lý nhà nước về văn hóa còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm 16 quản lý) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng cuộc sống người dân…) [61, tr. Nội dung cơ bản của quản lý Nhà nước về văn hóa Quản lý Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa gồm những nội dung cơ bản như: - Xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật nhằm quản lý thống nhất các hoạt động văn hóa. - Xây dựng các thiết chế quản lý Nhà nước về văn hóa.
- Ban hành và thực thi hệ thống chính sách về văn hóa. - Đầu tư tài chính cho văn hóa. - Tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa [73, tr. Theo tác giả cho rằng quản lý Nhà nước về văn hóa là hoạt động của bộ máy nhà nước, trong lĩnh vực hành pháp, nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam.
Nhà nước với vai trò là thiết chế trung tâm trong hệ thống chính trị, đại diện cho nhân dân, đảm bảo cho mọi người dân đều được thực hiện các quyền cơ bản của mình, trong đó có các quyền về văn hóa, như: quyền học tập, sáng tạo, phê bình văn hóa nghệ thuật, tự do sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng… Nhà nước có trách nhiệm điều tiết, để đảm bảo sự hài hòa giữa các thành tố văn hóa, điều tiết lợi ích văn hóa của các giai tầng, các yêu cầu phát triển và thỏa mãn nhu cầu văn hóa của toàn xã hội. Còn UBND là cơ quan hành chính pháp chế nhà nước ở các địa phương, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hóa ở địa phương mình, theo quy định của pháp luật. Các Sở VHTTDL trực thuộc Tỉnh, Thành phố, các Phòng VHTT cấp huyện/thành phố, các Ban văn hóa các xã, phường, thị trấn là cơ quan chuyên môn trực tiếp tham mưu tư vấn giúp UBND các cấp quản lý văn hóa ở địa phương mình. Nhà nước tiến hành quản lý văn hóa bằng chính sách và pháp luật về văn hóa.
Chính sách pháp luật về văn hóa, được hiểu là những nguyên tắc thực hiện tư tưởng chủ đạo của Nhà nước về chủ trương đường lối, phương hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa phù hợp với mục tiêu phát triển chung của đất nước. Song song với việc tiến hành các chính 17 sách về văn hóa, để quản lý văn hóa, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật về văn hóa, nhằm phát huy tác dụng của văn hóa đối với việc hình thành nhân cách, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của con người, chế ước những ảnh hưởng tiêu cực, loại bỏ những hủ tục lạc hậu. Cùng với việc ban hành các văn bản pháp luật, Nhà nước tạo ra một hành lang pháp lý an toàn, rộng mở cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Khái niệm lễ hội và lễ hội truyền thống Theo từ nguyên, lễ hội là sự kết hợp của hai từ Hán Việt là “lễ” và “hội”.
“Lễ hội”: Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2002 thì đó là cuộc vui tổ chức chung, có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa truyền thống của dân tộc. Lễ hội gồm 2 phần: phần Lễ và phần Hội. Trong lễ hội thì sự phân chia giữa lễ và hội chỉ là tương đối. Trên thực tế thì ranh giới giữa lễ và hội chỉ là tương đối, luôn có điểm giao thoa giữa lễ và hội, trong lễ lại bao hàm cả tính chất hội.
Có nhiều khái niệm về “Lễ”, theo Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 2002 thì “Lễ” là từ chỉ những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, một sự kiện có ý nghĩa nào đó. Lễ có nghĩa là vái, lạy để tỏ lòng cung kính theo phong tục cũ. Lễ còn được hiểu là khuôn phép, là phép bày ra nhằm tỏ lòng kính trọng, lịch sự. Còn theo tác giả Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Lễ là môi trường tín ngưỡng tôn giáo, nó chứa đựng biểu tượng cao đẹp về cái thiêng liêng cao cả, mà con người cần phải vươn tới: Chân - Thiện - Mỹ” [74, tr.
Lễ là phần tín ngưỡng (tế, rước), là phần đầu tiên khi tiến hành lễ hội. Lễ là cốt lõi, là phần quan trọng nhất mang tính thiêng liêng tôn kính, là nghi lễ thờ cúng thánh, thần được coi là linh hồn của một lễ hội. Không gian và thời gian tổ chức các nghi lễ được quy định chặt chẽ. Công tác chuẩn bị lễ cần rất cẩn thận, tỉ mỉ, chính xác.
Trong lễ bao giờ cũng phải có tế. Tế bao gồm những nghi thức theo quy định như y phục, phẩm phục, hia hài, mũ mãng cho đến việc tế thần được tổ chức như thế nào. Thường thực hiện tế là những cụ cao niên, phúc đức, uy tín được dân làng chọn ra, trong đó có một người làm chủ tế, dâng hương, dâng rượu trắng, dâng lễ 18 vật.