Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các vấn đề liên quan đến luận án 1. Trên thế giới 1.
Nhóm các công trình nghiên cứu về du lịch sinh thái và du lịch sinh thái dưạ vào cộng Du lịch sinh thái (DLST) là một loại hình có lịch sử khá lâu đời, song hành với các dạng thức du lịch khác. Hình thức sơ khai của DLST là những hoạt động du lịch gắn liền với thiên nhiên, được miêu tả qua các chuyến đi của Herodorus, Aristotle, Marco Polo, Ibn Batuta. Trải qua một giai đoạn dài bị sao lãng trong thời kỳ trung cổ, du lịch và các hình thức du lịch gắn với thiên nhiên được quan tâm trở lại nhờ những tiền đề thuận lợi cho phát triển du lịch trong thời kỳ Cách mạng Công nghiệp. Du lịch biển và du lịch núi là những trào lưu du lịch chính, gắn với thiên nhiên trong giai đoạn này.
Song, những đặc trưng của DLST với ý nghĩa là công cụ “kỳ diệu” trong mục tiêu bảo vệ môi trường bền vững [116, tr.71] gần như chưa được xác lập. Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng - một hình thức rất cụ thể của du lịch sinh thái - đã đi về phía trước như một công cụ có giá trị cho xóa đói giảm nghèo, bảo tồn đa dạng sinh học và cung cấp các dịch vụ du lịch có trách nhiệm và bền vững. Chính vì vậy khi nghiên cứu về DLSTDVCĐ cần phải lấy hoạt động DLST làm cốt lõi. Thuật ngữ “DLST” được Hector Ceballos - Lascurain (1996) chính thức đưa ra vào năm 1987 ngay lập tức đã phát triển nhanh chóng và rộng khắp: Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị thay đổi với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và thế giới động vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hóa (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong những khu vực này”.
Sự ra đời của Hiệp hội DLST quốc tế (TIES) ba năm sau đó (1990) bước đầu khẳng định vị thế của DLST với tư cách là một hệ thống lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững trong du lịch. Song, vai trò của DLST trong việc bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học được tác giả Blangy S. đề cập đến những báo động về những tác động của du lịch đến môi trường trong đó có sự tổn thương của các hệ sinh thái [99]. 7 Những đóng góp của các học giả nổi tiếng về việc xác định những hành vi mà khách du lịch tuân thủ trong quá trình tham gia vào hoạt động du lịch sinh thái, đặc biệt khi tiếp xúc với các loài nguy cấp được James Higham (2007) đề cập trong cuốn sách Critical Issues in Ecotourism: Understanding a complex tourism phenomenon.
Đề cập đến lợi ích của DLST đến CĐĐP: tạo công ăn việc làm; cải thiện môi trường sống, môi trường chính trị và tăng thêm thu nhập cho CĐĐP: Samantha Jones [118] và Elizabeth Boo [104] Các tác giả đã phân tích vai trò, năng lực cộng đồng trong phát triển du lịch sinh thái: nhận thức của cộng đồng, nguồn vốn của cộng đồng , khả năng tham gia phục vụ du lịch của cộng đồng và các mối quan hệ các nguồn lực đó. Đây là những công trình khoa học bổ ích cho việc vận dụng vào nghiên cứu và áp dụng để phát triển DLST. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu thấu đáo về DLSTDVCĐ. Những nghiên cứu về đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên để phục vụ mục đích phát triển du lịch Cho đến nay, đã có nhiều công trình đánh giá điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên cho PTDL với nhiều hướng tiếp cận đánh giá: đánh giá thích nghi sinh thái, đánh giá ảnh hưởng môi trường, đánh giá kinh tế.
Trong đó, hướng đánh giá thích nghi sinh thái cảnh quan là hướng được sử dụng nhiều. Thập kỉ 60 và 70 của thế kỷ XX, ở Nga và các nước Đông Âu đã có nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá TNDL. Công trình tiêu biểu của I. Misônhitrencô (1969) đã đánh giá toàn bộ các tiêu chí tự nhiên làm tiền đề cho việc tổ chức các vùng du lịch; L.Mukhina (1973), trong công trình đánh giá phục vụ du lịch vùng hồ Xelighe đã sử dụng đơn vị cơ sở là “đất đai nghỉ ngơi” - hệ thống tự nhiên trên đất liền hay dưới nước thuận lợi cho một dạng hay nhóm dạng nghỉ ngơi nào đó.
Việc xác định những yếu tố tự nhiên như tính chất trầm tích, yếu tố địa hình (độ cao, dốc, tần suất khúc ngoặt.), kiểu đất, thực vật (kiểu thực bì, độ cao cây cỏ, độ chiếu tán, loài cây đang tái sinh.) làm cơ sở phân hóa không gian của lãnh thổ vùng hồ cho các dạng nghỉ ngơi [trích 35].Phêrôrốp là người đã đề xuất phương pháp đánh giá khí hậu tổng hợp và đã được các tác giả Subukốp, I. Phương pháp này dựa trên cơ sở phân loại thời tiết trong sinh khí hậu, qua đó xây dựng tổ hợp các kiểu thời 8 tiết đặc trưng trong ngày với các mức độ khác nhau đến sức khỏe con người cũng như đến các hoạt động du lịch. Đây là công trình nghiên cứu về sinh khí hậu con người có giá trị sử dụng của các nhà khí hậu trên thế giới; A.Ixatsenko (1985), căn cứ vào sự đa dạng của môi trường, mức độ thích hợp của các điều kiện khí hậu, môi trường địa lý, điều kiện vệ sinh và các thuộc tính tự nhiên khác đặc trưng để xác định mức độ thích hợp cho mỗi loại hình du lịch đồng thời đánh giá ảnh hưởng của ĐKTN và TNTN đến các công trình du lịch; I.Pirôjnhic (1985) đã tiến hành đánh giá tổng hợp thành phần của hệ thống lãnh thổ du lịch như TNDL, cấu trúc các luồng khách và cơ sở vật chất phục vụ du lịch theo các vùng và các đới DL. Công trình này đã đề cập rất nhiều đến hoạt động khai thác lãnh thổ du lịch-không gian du lịch; B.Likhainốp Z (1973) xác định tài nguyên phục vụ việc nghỉ ngơi, giải trí là một dạng đặc biệt của TNDL, việc nghiên cứu chúng là một nhiệm vụ quan trọng của địa lý giải trí; Một số tác giả phương Tây như P.
đã tiến hành đánh giá và sử dụng TNTN phục vụ mục đích giải trí. Nhà địa lý Ce Cápar đã xác định TNDL là một thành hệ quan trọng trong hệ thống lãnh thổ du lịch cần phải được quan tâm nghiên cứu; Bôniface và Cooper (1993) đều cho rằng nghiên cứu và đánh giá TNDL là bước căn bản trong quy hoạch PTDL. Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trên là những định hướng hữu ích cho việc đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên phục vụ trên toàn thể vùng lãnh thổ nói chung. Tuy nhiên, hầu hết các công trình lại chưa có những đánh giá, chỉ rõ được những không gian thuận lợi cho phát triển du lịch nói chung và theo từng loại hình du lịch nói riêng.
Tại Việt Nam 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về du lịch sinh thái và du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng Giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nghiên cứu về DLST mới xuất hiện trên các bài báo và tạp chí khoa học. Đến cuối những năm 1990, DLST đã bước đầu gây được chú ý ở cấp độ quốc gia với sự tham gia của Tổng cục Du lịch Việt Nam cùng nhiều tổ chức quốc tế tại Việt Nam như UNDP, UN-ESCAP, WWF, IUCN. Việc tổ chức những hội thảo xoay quanh các vấn đề phát triển DLST như Hội thảo về DLST với phát triển du lịch bền vững (DLBV) ở Việt Nam (1998); Hội thảo “Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST ở Việt Nam” (8-1999), Hội thảo khoa học: “Phát triển du lịch sinh thái trong khu dự trữ sinh quyển: cơ hội và thách thức” 9 (2004).
là những dấu hiệu bước đầu cho thấy sự quan tâm rộng rãi hơn của giới học giả. Qua đó, hệ thống cơ sở lý luận về DLST đã phần nào được định hình. Hệ thống cơ sở lý luận về DLST đã được các tổ chức và các học giả đưa ra như: Lê Văn Lanh (1998), Hội các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam (2001); Phạm Trung Lương (2002), Lê Huy Bá (2009). Hầu hết các công trình nghiên cứu đều thống nhất khái niệm về DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường và đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.
Về cơ sở thực tiễn, năm 2004, dựa trên sự hợp tác của Cục Kiểm Lâm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, tổ chức phát triển bền vững Fundeso và Cơ quan hợp tác quốc tế Tây Ban Nha đã xuất bản cuốn “Cẩm nang quản lý phát triển du lịch sinh thái ở các khu bảo tồn Việt Nam”. Cuốn sách này được coi là nền tảng cho công tác quản lý, tổ chức DLST và DLSTDVCĐ tại Việt Nam. Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu khác đã và đang được hình thành xoay quanh vấn đề nhận thức và áp dụng thực tiễn DLST ở Việt Nam như: Đặng Duy Lợi (1992), Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (1998), Nguyễn Thị Sơn (2000), Phạm Trung Lương (2002), Hoàng Hoa Quân, Nguyễn Ngọc Khánh, Nguyễn Văn Lanh, Đỗ Quốc Thông (2002), Nguyễn Quyết Thắng (2005), Nguyễn Thị Hải (2007), Lê Huy Bá (2008), Nguyễn Xuân Hoà (2009), Trần Đức Thanh. Hầu hết những công trình này đều đưa ra những định hướng phát triển DLST theo hướng phát triển bền vững cho khu vực nghiên cứu mà chưa nghiên cứu thấu đáo các nguồn lực bên trong để giúp các địa phương/khu vực nhận diện những thế mạnh trong phát triển DLST và hướng tới phát triển bền vững khu vực.
Những nghiên cứu về đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên để phục vụ phát triển du lịch Ở Việt Nam, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về TNDL, đánh giá ĐKTN và TNTN phục vụ mục đích du lịch. Trên phạm vi toàn quốc đã có một số công trình tiêu biểu trong lĩnh vực này được Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch thực hiện như: “Quy hoạch tổng thể PTDL Việt Nam đến năm 2010”, “Quy hoạch tổng thể PTDL tổng thể Đồng bằng Sông Cửu Long”, “Quy hoạch tổng thể PTDL 10 vùng du lịch Bắc Bộ” (2000), “Quy hoạch tổng thể vùng Bắc Trung Bộ” (2002), “Quy hoạch tổng thể PTDL vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ” (2002) và đặc biệt là “Quy hoạch tổng thể PTDL Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn năm 2030.