Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI, KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI ĐỀN VOI PHỤC 1. Các khái niệm cơ bản 1. Lễ hội và lễ hội truyền thống Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa dân gian, tín ngưỡng được hình thành khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam. Ở mỗi vùng, miền, tùy thuộc vào điều kiện về tự nhiên, lịch sử, địa lý, kinh tế, lễ hội lại có những sắc thái, đặc điểm văn hóa cộng đồng riêng biệt, không thể pha lẫn.
Hiện nay, riêng về khái niệm “lễ hội” đã có rất nhiều những quan điểm, ý kiến khác nhau. Từ những năm 90 của thế kỉ trước, những nhà nghiên cứu về văn hóa trong các công trình đã đưa ra hai khái niệm “lễ hội” và “hội lễ”. Có thể nhìn nhận rằng, nội hàm của hai khái niệm này là giống nhau nhưng được tiếp cận ở những góc độ khác nhau về hoạt động trong lễ hội. Tác giả Lê Hữu Tầng trong Hội thảo khoa học quốc tế chủ đề “Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại” cho rằng “lễ và hội là hai yếu tố giữ vai trò then chốt, tạo nên cốt lõi của hội lễ” và khẳng định “có thể gọi nó là hội lễ hay lễ hội đều được” [19, tr.
Tác giả Đinh Gia Khánh đã viết: “Danh từ hội lễ nên được dùng như một thuật ngữ văn hóa. Có thể sơ bộ xác định ý nghĩa của thuật ngữ này theo hai thành tố là hội và lễ. Hội là một tập hợp đông người trong một sinh hoạt cộng đồng. Lễ là các nghi thức đặc thù gắn với sinh hoạt ấy” [20, tr.
Có thể thấy, khái niệm “lễ hội” dù có nhiều quan điểm, luồng ý kiến khác nhau nhưng đều chung một nhận định là khái niệm đó bao gồm hai yếu tố không thể tách rời là “lễ” và “hội”. Tác giả Nguyễn Phương định nghĩa: Lễ hội là một hiện tượng văn hóa được hình thành và phát triển 10 trong những điều kiện địa lý, lịch sử, văn hóa và kinh tế nhất định, gắn với những đặc điểm văn hóa cộng đồng. Bên cạnh việc bảo lưu, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội đã và đang tạo nên những thói quen mới, lối sống mới, cách hành xử mới trước các sự kiện, dấu ấn lịch sử đương đại. Các loại hình lễ hội có yêu cầu về không gian, thời gian, lễ thức riêng.
Lễ hội là DSVH quý của mỗi quốc gia, dân tộc [37, tr. Tác giả Hoàng Phê trong Từ điển Tiếng Việt đưa ra khái niệm về lễ hội là “Cuộc vui tổ chức chung, có hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa truyền thống của dân tộc” [35, tr. Như vậy, từ những khái niệm trên, có thể hiểu: Lễ hội là hoạt động văn hóa của con người, mang tính cộng đồng; không gian và thời gian của lễ hội diễn ra trong những chu kỳ nhất định, được thể hiện bằng những hình thức và cấp độ khác nhau, mục đích để phục vụ lợi ích và nhu cầu của các cá nhân, tập thể; lễ hội bao gồm những hành vi, nghi thức, tác động để biểu hiện sự tôn kính, tôn trọng đối với các vị thần linh, phản ánh những nguyện vọng, mơ ước, khát vọng chính đáng của một cộng đồng dân cư. Về lễ hội truyền thống, theo các nhà nghiên cứu đây cũng là một bộ phận cấu thành DSVH phi vật thể.
Theo tác giả Lý Tùng Hiếu: “Các lễ hội truyền thống (traditional festivals, còn gọi là lễ hội dân gian, lễ hội cổ truyền) bao gồm 03 loại hình: lễ hội ngành nghề (professional festivals), lễ hội tưởng niệm danh nhân - anh hùng dân tộc (celebration festivals to celebrities and national heroes), lễ hội tôn giáo tín ngưỡng (religious festivals)” [14, tr. Điều 3, Nghị định số 110/2018/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 29 tháng 8 năm 2018 quy định về quản lý và tổ chức lễ hội, đã giải thích từ ngữ: Lễ hội truyền thống (bao gồm cả lễ hội tại các di tích lịch sử - văn hóa, 11 lễ hội dân gian) là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng được tổ chức theo nghi lễ truyền thống, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân. Quản lý Cho đến nay vẫn có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý. Theo từ điển Tiếng Việt chủ biên Hoàng Phê, quản lý là “Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [35, tr.1013] Theo cuốn Tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên chính, Quyển 1 phần Lý thuyết của Học viện Hành chính quốc gia thì: “Quản lý là sự tác động có định hướng và có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt tới những mục tiêu nhất định" [15, tr.17] Hoạt động quản lý xã hội gắn liền với sự hình thành và phát triển của các tổ chức trong xã hội với tư cách là tập hợp những người được điều khiển, định hướng, phối hợp với nhau theo một cách thức định trước nhằm đạt tới một mục tiêu chung nào đó.
Như vậy, theo tác giả, quản lý là sự tác động có định hướng và có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt tới những mục tiêu nhất định. Hoạt động quản lý xã hội gắn liền với sự hình thành và phát triển của các tổ chức trong xã hội với tư cách là tập hợp những người được điều khiển, định hướng, phối hợp với nhau theo một cách thức nhất định trước nhằm đạt tới một mục tiêu chung nào đó. Để một hoạt động quản lý có thể diễn ra, bên cạnh chủ thể quản lý cần có các yếu tố khác như đối tượng quản lý, cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và những mục tiêu mà hoạt động quản lý hướng tới. Quản lý nhà nước (QLNN) là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện của nhà nước.
Đó là hoạt động quản lý 12 gắn liền với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước, có tính chất cưỡng chế đơn phương đối với xã hội. Quản lý lễ hội Quản lý lễ hội gồm QLNN và các hình thức quản lý khác đối với các hoạt động lễ hội nhằm đảm bảo được đặc trưng văn hóa tâm linh, nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, đảm bảo tính thiêng của các nghi lễ cổ truyền, giữ gìn được những giá trị tốt đẹp của lễ hội; ngăn chặn được những hoạt động lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng và lễ hội để trục lợi và vi phạm pháp luật; đồng thời, đáp ứng nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của người dân với các sinh hoạt văn hóa cộng đồng phong phú, hấp dẫn, phù hợp với thị hiếu công chúng, đảm bảo tính giáo dục, nhân văn, lành mạnh. Từ khái niệm này, có thể thấy rằng, quản lý lễ hội Đền Voi Phục cũng bao gồm QLNN và các hình thức quản lý khác đối với các hoạt động của lễ hội nhằm đảm bảo cho lễ hội đền Voi Phục diễn ra đúng với các nghi lễ truyền thồng, giữ gìn được những giá trị tốt đẹp của lễ hội; đảm bảo nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh cho một bộ phận nhân dân. Các văn bản chỉ đạo của Trung ương Luật Di sản văn hóa ban hành ngày 23 tháng 7 năm 2013 là minh chứng cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa đã và đang được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm.
Trong Luật Di sản văn hóa, Chương III. Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, Điều 25 đã quy định: Nhà nước tạo điều kiện duy trì và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống thông qua các biện pháp sau đây: 1. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội. Khuyến khích việc tổ chức hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian truyền thống gắn với lễ hội.
Phục dựng có chọn lọc nghi thức lễ hội truyền thống. Khuyến khích việc hướng dẫn, phổ biến rộng rãi ở trong nước và nước ngoài về nguồn gốc, nội dung giá trị truyền thống tiêu biểu, độc đáo của lễ hội. Trong thời gian vừa qua, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo đối với công tác quản lý và tổ chức lễ hội. Gần đây nhất là Chỉ thị số 41- CT/TW, ngày 05 tháng 02 năm 2015 của Ban Bí thư (khóa XI) về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý và tổ chức lễ hội.
Ngoài ra, các chủ trương, đường lối của Đảng về quản lý lễ hội còn được đề cập trong nội dung các văn kiện của các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng. Tổng hợp những văn bản đó, có thể khái quát một số chủ trương của Đảng đối với quản lý lễ hội như sau: - Một là, việc tổ chức lễ hội phải theo đúng quy định của pháp luật; đảm bảo thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm; phù hợp với thuần phong, mỹ tục, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, có ý nghĩa giáo dục cao. - Hai là, bảo tồn có chọn lọc, cải tiến, đối mới những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc; loại bỏ dần trong cuộc sống những hình thức lỗi thời, lạc hậu; nghiên cứu xây dựng và hình thành dần những hình thức vừa văn minh, vừa giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong lễ hội. - Ba là, hạn chế sử dụng ngân sách nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa các nguồn lực trong tổ chức lễ hội.
- Bốn là, ngăn chặn và khắc phục tình trạng lợi dụng di tích, nơi thờ tự, lễ hội nhằm trục lợi, tuyên truyền mê tín dị đoan và tổ chức các hoạt động trái pháp luật. 14 - Năm là, quản lý lễ hội phải đi đôi với việc tăng cường các biện pháp giữ gìn, bảo vệ di tích, danh lam thắng cảnh; bảo đảm an ninh trật tự (ANTT), phòng chống cháy nổ (PCCN), ATGT; khắc phục, giải quyết dứt điểm tình trạng ùn tắc giao thông; đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh cảnh quan môi trường tại các lễ hội. - Sáu là, phát động phong trào quần chúng rộng rãi, nêu cao vai trò làm chủ, ý thức tự giác của nhân dân, xây dựng và thực hiện các tiêu chuẩn về nếp sống văn minh - gia đình văn hóa.