phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn kết cấu thành 3 chương: 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG 1. Một số khái niệm cơ bản về lễ hội truyền thống 1.Văn hóa Từ “văn hóa” có nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm khác nhau. Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn…) Năm 2002, UNESCO đã định nghĩa về Văn hóa như sau: Văn hóa nên đề cập đến như là một tập hợp của những đặt trưng về tâm hồn,vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin [18, tr431]. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [24,tr431].
Như vậy, chúng ta có thể hiểu Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữ con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người.
Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình 8 thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra. Như trên đã đề cập, văn hóa là một khái niệm có nhiều tầng ý nghĩa. Văn hóa bao gồm nhiều nội dung, nhiều hoạt động: rộng nhất, nhiều ý kiến cho rằng văn hóa bao gồm tất cả những hoạt động sáng tạo của con người; hoặc quan điểm khác cho rằng văn hóa biểu hiện cách ứng xử của con người với con người và với tự nhiên; văn hóa thể hiện khía cạnh đời sống tinh thần của con người; hay văn hóa thể hiện nếp sống, phong tục tập quán của cộng đồng cư dân, trong đó có hoạt động lễ hội.Lễ hội Về mặt thuật ngữ, có nhiều khái niệm và định nghĩa lễ hội. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (2005): Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện.
Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình an cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung của bốn chữ “ nhân khang, vật thịnh ”. Lễ hội là hoạt động của một tập thể người liên quan đến tín ngưỡng tôn giáo. Do nhận thức, người xưa rất tin vào trời đất, sông núi, vì thế ở các làng, xã, thường có miếu thờ thiên thần, thổ thần, thủy thần, sơn thần, lễ hội truyền thống phản ánh hiện tượng đó. Lễ hội là một hiện tượng xã hội – lịch sử được hình thành từ lâu đời, mang trong mình những giá trị văn hóa độc đáo mang bản sắc cộng đồng, tổ chức theo những nghi thức trọng thể nhất nhằm tôn vinh các vị thần linh, nhân thần có công với một địa phương trong việc chống giặc ngoại xâm hay 9 mở mang xây dựng một vùng đất.
Đồng thời lễ hội là dịp để con người giao tiếp, cố kết cộng đồng thông qua những hoạt động vui chơi mang nhiều ý nghĩa biểu tượng. Lễ hội là một trong những công cụ để phản ánh một nền văn hóa. Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định, nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại đồng thời là dịp để thể hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên, thần thánh và con người trong xã hội. Lễ hội cũng là nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của mọi tần lớp dân cư, là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau biết giữ gìn, kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc theo cách riêng, kết hợp giữa yếu tố tâm linh và các trò chơi, đua tài, giải trí… Lễ hội là dịp con người được giải tỏa, giải bày phiền muộn, lo âu với thần linh, mong được thần giúp đỡ, chở che để vượt qua những thử thách đến với ngày mai tươi sáng hơn.
Lễ hội là tổ hợp các yếu tố và hoạt động văn hóa đặt trưng của cộng đồng xoay quanh một trục ý nghĩa nào đó, nhằm tôn vinh và quảng bá cho những giá trị nhất định [ 22, Tr.16] Như vậy, lễ hội là một sinh hoạt văn hóa dân gian nguyên hợp mang tính cộng đồng cao của nông dân hay thị dân, diễn ra trong những chu kỳ không gian, thời gian nhất định để làm những nghi thức về nhân vật được sùng bái, để tỏ rõ những ước vọng, để vui chơi trong tinh thần cộng mệnh và cộng cảm. Lễ hội truyền thống và hoạt động lễ hội truyền thống 1. Lễ hội truyền thống 10 Truyền thống, theo từ nguyên của tiếng la tinh là “traditio”, nghĩa là nối đời, nối truyền, Theo nghĩa thông thường, trong từ điển tiếng Việt phổ thông, truyền thống được định nghĩa “Thói quen hình thành đã từ lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác’’ [17, tr. Theo định nghĩa của UNESCO, văn hóa truyền thống: “ là các tập quán và biểu tượng xã hội mà theo quan niệm của một nhóm xã hội thì được lưu giữ từ quá khứ đến hiện tại thông qua việc lưu truyền giữa các thế hệ và có một tầm quan trọng đặc biệt”.
Lễ hội thuộc phạm trù của văn hóa, do vậy, khái niệm Lễ hội truyền thống có thể bao trùm cả những lễ hội cổ truyền đã có từ xa xưa và cả những truyền thống lễ hội được xác lập mấy chục năm trở lại đây như lễ hội kỷ niệm ngày quốc khánh, lễ hội làng sen… Tuy nhiên, ở nước ta khi sử dụng cụm từ lễ hội truyền thống thông thường được hiểu như lễ hội thông thường [17, tr. Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 110/2018/NĐ- CP về quản lý và tổ chức lễ hội thì lễ hội truyền thống được định nghĩa như sau: Lễ hội truyền thống (bao gồm cả lễ hội tại các di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội dân gian) là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng được tổ chức theo nghi lễ truyền thống, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân. Dựa trên quan điểm biện chứng, ở một thời diểm nhất định, truyền thống bao giờ cũng có hai mặt; tích cực và tiêu cực. Mặt tích cực bao gồm những yếu tố ưu việt, tiến bộ, phù hợp và thúc đẩy sự phát triển của xã hội giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Mặt tiêu cực là hiện thân của sức ỳ, của sự bảo thủ, lạc hậu có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của xã hội. Lễ hội truyền thống được hình thành từ phong tục, tập quán, tín ngưỡng và nhu cầu đời sống tâm linh, vui chơi giải trí của nhân dân là loại hình sinh 11 hoạt văn hóa, sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử. Như vậy, so với các lễ hội khác, lễ hội truyền thống mang 3 đặc trưng cơ bản sau: - Lễ hội truyền thống gắn với đời sống tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng, nó mang tính linh thiêng, do vậy, nó thuộc thế giới thần linh, thiêng liêng, đối lập với đời sống trần gian, trần tục. Tính tâm linh và tính linh thiêng của lễ hội nó quy định “ngôn ngữ” của lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng, tính thăng hoa, vượt lên thế giới hiện thực, trần tục của đời sống thường ngày.
- Lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hóa mang tính hệ thống tính phức hợp, một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, bao gồm gần như tất cả các phương diện khác nhau của đời sống xã hội của con người: sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ,phong tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò chơi, sân khấu…), các cuộc thi tài, vui chơi giải trí, ẩm thực…Không có một sinh hoạt văn hóa truyền thống nào của nước ta lại có thể so sánh được với lễ hội cổ truyền, trong đó chứa đựng đặc tính vừa đa dạng vừa nguyên hợp này. - Chủ thể của lễ hội truyền thống là cộng đồng. Đó là cộng đồng làng, cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng thị dân và lớn hơn cả là cộng đồng quốc gia dân tộc. Nói cách khác không có lễ hội nào lại không thuộc về một dạng cộng đồng, của một cộng đồng nhất định.
Cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội. Ba đặt trưng trên nó quy định tính chất, sắc thái văn hóa, cách thức tổ chức, thái độ và hành vi, tình cảm của những người tham gia lễ hội, phân biệt với các loại hình lễ hội khác như lễ hội sự kiện, các loại Festival… 12 Như vậy, có thể xem lễ hội truyền thống là hiện tượng lịch sử, hiện tượng văn hóa có mặt ở Việt Nam từ lâu đời và có vai trò không nhỏ trong đời sống xã hội. Hoạt động lễ hội truyền thống Hoạt động lễ hội truyền thống là các bước tiến hành, các sự việc xảy ra trong phạm vi thời gian, không gian của một lễ hội truyền thống theo một chu trình được định sẵn.