Chương 1: Cơ sở lý thuyết quản lý Trung tâm Văn hoá, Thông tin, Thể thao và Du lịch và khái quát về địa bàn nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tại Trung tâm Văn hoá, Thông tin, Thể thao và Du lịch huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động của Trung tâm Văn hoá, Thông tin, Thể thao và Du lịch huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT QUẢN LÝ TRUNG TÂM VĂN HÓA, THÔNG TIN, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.
Cơ sở lý thuyết quản lý ho t động của Trung tâm Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch 1. Một số khái niệm: Văn hóa, Quản lý nhà nước về văn hóa, Quản lý, Quản lý văn hoá, Trung tâm Văn hóa, Quản lý hoạt động Trung tâm văn hóa huyện 1. Khái niệm về văn hóa Văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con người sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên. Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện, v. Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa. Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh. Các "trung tâm văn hóa" có ở khắp nơi chính là cách hiểu này.
Một cách hiểu thông thường khác: văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận. Vì thế chúng ta nói một người nào đó là văn hóa cao, có văn hóa hoặc văn hóa thấp, vô văn hóa. Trong nhân loại học và xã hội học, khái niệm văn hóa được đề cập đến theo một nghĩa rộng nhất. Văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ vốn là một bộ phận trong đời sống con người.
Văn hóa không chỉ là những gì liên quan đến tinh thần mà bao gồm cả vật chất. Khái niệm Quản lý nhà nước về văn hóa Quản lý nhà nước về văn hóa là một bộ phận trong quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực đời sống, xã hội. Nó là sự định hướng, tạo điều kiện và tổ chức điều hành của nhà nước để làm cho văn hóa phát triển theo hướng vì sự phát triển bền vững của con người và xã hội. Hay nói cách khác, quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý của nhà nước với toàn bộ hoạt động văn hóa của một quốc gia bằng quyền lực nhà nước thông qua hiến pháp, pháp luật về thể chế chính sách để đảm bảo sự phát triển của văn hóa dân tộc.
Hoạt động văn hóa là một hoạt động xã hội quan trọng, tất yếu có sự quản lý của nhà nước. Đây cũng là hoạt động sáng tạo, hoạt động tư tưởng và còn là hoạt động kinh tế nên quản lý văn hóa là một hoạt động xã hội mang tính đặc thù bởi những lý do sau: Hoạt động văn hóa là một hoạt động sáng tạo, các tác phẩm văn hóa mang giá trị lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác làm giàu đẹp cho cuộc sống và con người. Hoạt động văn hóa là hoạt động tư tưởng có khả năng tạo hiệu ứng tốt hoặc xấu trong xã hội Hoạt động văn hóa là hoạt động kinh tế, vừa là động lực vừa là nguồn lực trực tiếp để phát triển kinh tế. Con người là chủ thể sáng tạo văn hóa cũng là người hưởng thụ văn hóa.
Vì thế, quản lý nhà nước về văn hóa cũng có thể hiểu là quản lý con người tham gia các hoạt động văn hóa để thực hiện chức năng và nhiệm vụ đặt ra cho quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa của dân tộc. Khái niệm Quản lý Quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Trong Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa động từ quản lý, theo đó, quản lý gồm hai yếu tố. “Quản” là hình thức giữ gìn hoặc trông coi theo những yêu 10 cầu nhất định và “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định.
Như vậy, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau là “quản” và “lý” [23]. Trong Đại từ điển tiếng Việt, “quản lý” được hiểu là việc tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, cơ quan; việc trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì [9]. Các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đưa ra khái niệm cụ thể hơn: “là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”. Để thực hiện công tác quản lý cần phải dựa vào luật pháp, quy hoạch, đề án, tài chính.để đạt được các mục đích đề ra.
Quản lý là có định hướng, có kế hoạch có sự tác động liên tục có tổ chức, của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để nhằm mục đích điều khiển, chỉ huy liên kết tham gia vào hoạt động để trở thành một chỉnh thể thống nhất, nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường. Chúng ta có thể thấy rằng từ các định nghĩa khác nhau về quản lý được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau nhưng đều thống nhất (Chủ thể quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách thể quản lý); Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý); Quản lý để làm gì? (Mục tiêu quản lý). Như vậy, có thể hiểu mục tiêu của quản lý: là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định, do chủ thể quản lý định trước. Do đó, nội hàm khái niệm quản lý được hiểu: Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách có định hướng, thông qua những biện pháp, phương pháp, phương tiện quản lý nhằm hoàn thiện hóa hoặc thay đổi tình trạng hiện hữu.
Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp hoạt động quản lý luôn có tính mục đích, tính tổ chức và hướng tới tính hiệu quả.[23] 11 Quản lý bắt nguồn từ sự phân công của cấp trên đối với cấp dưới. Quản lý được diễn ra với tính chất và quy mô tổ chức từ nhỏ đến lớn. Từ cấp cao đến cấp thấp. Có thể hiểu quản lý là hoạt động nhằm tác động của chủ thể quản lý trực tiếp lên đối tượng bị quản lý trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm mục đích điều chỉnh hành vi, ổn định và phát triển của đối tượng bị quản lý.
Quản lý bao gồm các yếu tố cơ bản như sau: Chủ thể quản lý, Khách thể quản lý, Đối tượng quản lý, Mục tiêu quản lý. Xã hội đang ngày một phát triển, khi các ứng dụng khoa học kĩ thuật được đưa và sử dụng. Trí tuệ nhân tạo ngày càng được thay thế con người thì đòi hỏi người quản lý cần phải nhanh chóng cập nhật các kiến thức phong phú khác nhau, được gắn với các kế hoạch, mục tiêu rõ ràng. Để quản lý tốt, đòi hỏi người quản lý phải nắm rõ các đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, luôn luôn nắm bắt những chính sách mới nhất của Đảng và nhà nước.
Ngoài ra, người quản lý cũng cần phải có khả năng nhìn nhận phát hiện và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực một cách hiệu quả nhất.Để từ đó đưa ra những biện pháp phù hợp nhất để quản lý đối tượng. Quản lý văn hóa Quản lý nhà nước về văn hóa là một bộ phận trong đối với các lĩnh vực đời sống, xã hội. Nó là sự định hướng, tạo điều kiện và tổ chức điều hành của nhà nước để làm cho văn hóa phát triển theo hướng vì sự phát triển bền vững của con người và xã hội. Hay nói cách khác, quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý của nhà nước với toàn bộ hoạt động văn hóa của một quốc gia bằng quyền lực nhà nước thông qua hiến pháp, pháp luật về thể chế chính sách để đảm bảo sự phát triển của văn hóa dân tộc [20].
Hoạt động văn hóa là một hoạt động xã hội quan trọng, tất yếu có sự quản lý của nhà nước. Là hoạt động mang tư tưởng, sáng tạo, kinh tế nên quản lý văn hóa là một hoạt động xã hội mang đặc điểm như sau: 12 - Hoạt động của văn hóa là một hoạt động mang tính sáng tạo, giá trị văn hóa được truyền từ đời này sang đời khác nhằm mục đích làm đẹp cho tất cả mọi người. - Hoạt động văn hóa là hoạt động tư tưởng có khả năng tạo hiệu ứng tốt hoặc xấu trong xã hội. - Hoạt động văn hóa là hoạt động kinh tế, vừa là động lực vừa là nguồn lực trực tiếp để phát triển kinh tế [20].
Con người là chủ thể sáng tạo. Chính vì thế, quản lý nhà nước về văn hóa cũng được hiểu là quản lý con người tham gia các hoạt động văn hóa để thực hiện chức năng và nhiệm vụ đặt ra cho quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa của dân tộc mà đã được định hướng thông qua các quyết định, nghị định, quy định đã được ban hành. Có thể nói quản lý các hoạt động văn hóa là quản lý tất cả mọi mặt về văn hóa. Quản lý các hoạt động văn hóa là quản lý các chương trình văn hóa, phục vụ các nhiệm vụ chính trị, xã hội, kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật của nhân dân.
Từ đó đưa ra yêu cầu rất lớn đối với người làm quản lý văn hóa đó là nắm bắt kịp thời các văn bản về văn hóa để từ đó chỉ đạo kịp thời nhất những vấn đề liên quan đến sự nghiệp văn hóa một cách nhanh, chính xác nhất quan điểm, đường lối của Đảng và nhà nước về sự nghiệp văn hóa. Trung tâm Văn hóa Trung tâm văn hóa là một tổ hợp hoạt động sự nghiệp của ngành văn hóa. Trung tâm VH,TT,TT&DL có thể tổ chức nhiều hoạt động khác nhau, phục vụ nhiều nhu cầu khác nhau, nhiều đối tượng khác nhau.