phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội. Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội cho học sinh các trƣờng Tiểu học trên địa bàn huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định. Biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội cho học sinh các trƣờng Tiểu học trên địa bàn huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định.
e 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI 1. Khái lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Một số nghiên cứu ngoài nước Có thể nói học tập bằng kinh nghiệm có từ rất lâu cùng với sự xuất hiện của loài ngƣời nhƣng giáo dục trải nghiệm mới đƣợc các nhà giáo dục đƣa ra nghiên cứu từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Cha đẻ của giáo dục trải nghiệm là Jonh Dewey (1890 - 1992) ngƣời đặt nền móng cho giáo dục trải nghiệm.
Thuyết trải nghiệm của Jonh Dewey dựa trên 2 nguyên lý chủ đạo là sự liên tục và tác động ảnh hƣởng lẫn nhau. Sự liên tục đƣợc ông chứng minh ở luận điểm: một điều gì đó từ một trải nghiệm kể cả điều tốt, điều dở chúng đều tích lũy thành kinh nghiệm và ảnh hƣởng tới những bản chất, bản tính của con ngƣời trong những kinh nghiệm tƣơng lai của mỗi cá nhân. Sự tác động ảnh hƣởng qua lại lẫn nhau đƣợc xây dựng dựa trên khái niệm liên tục. Theo Jonh Dewey trải nghiệm trong quá khứ ảnh hƣởng tới những tình huống hiện tại.
Thuyết giáo dục trải nghiệm của Jonh Dewey sau này vẫn đƣợc các nhà giáo dục học, nhà nghiên cứu lấy làm “điểm tựa” khi nghiên cứu về giáo dục trải nghiệm. Năm 1984 giáo sƣ David Kold ngƣời Mĩ đã công bố công trình nghiên cứu của mình về giáo dục trải nghiệm. Ông đã xây dựng nên mô hình học tập qua kinh nghiệm gồm bốn giai đoạn nhƣ sau: Giai đoạn 1: Khởi động bằng việc tiếp thu một kinh nghiệm. Giai đoạn 2: Quan sát và phản hồi.
Giai đoạn 3: Hình thành khái niệm trừu tƣợng. Giai đoạn 4: Thử nghiệm chủ động. e 6 Theo David Kold trong mô hình của ông ngƣời học có thể tiếp cận ở bất cứ giai đoạn nào trong 4 giai đoạn của chu trình học. Nhƣ vậy, giai đoạn trải nghiệm đã có ban đầu, sau đó tiếp tục bằng quá trình phản hồi, thảo luận, phân tích và đánh giá kinh nghiệm.
Theo Cral Rges: “Chỉ có cách học tập dựa trên sự khám phá bản thân hoặc tự lĩnh hội thì mới giúp con ngƣời thay đổi hành vi của mình. Bản chất của nó chính là giáo dục trải nghiệm”. Còn Richard Ponzio và Sally Stanly cho rằng: “Giáo dục trải nghiệm không đơn thuần là phải thực hiện một hoạt động, từ đó rút ra những kết luận và vận dụng vào các tình huống khác nhau. Mà thông qua việc kết hợp nhiều cảm giác trong quá trình chia sẻ kinh nghiệm, tất cả ngƣời học đều đƣợc mở rộng hiểu biết của mình”.
Nhƣ vậy trên thế giới quan niệm về giáo dục trải nghiệm đã đƣợc nhắc đến từ lâu. Mặc dù có nhiều quan điểm nhƣng đều đề cập đến cách học thông qua hoạt động trải nghiệm sẽ giúp học sinh nhớ lâu và nó kết hợp lý thuyết với thực hành trên thực tế. Một số nghiên cứu trong nước. Chƣơng trình giáo dục phổ thông mới do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành (2018), phân biệt rõ hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định hƣớng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12).
Chƣơng trình giáo dục phổ thông mới chú ý hơn đến tính kết nối giữa chƣơng trình của các lớp học, cấp học trong từng môn học và giữa chƣơng trình của các môn học trong từng lớp học, cấp học. Chƣơng trình giáo dục phổ thông mới đƣợc xây dựng theo mô hình phát triển năng lực, thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo để tăng cƣờng những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phƣơng pháp tích cực hóa hoạt động của ngƣời học, giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực mà nhà trƣờng và xã hội kỳ vọng [1]. Các tác giả Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Thị Kim Dung trong công trình nghiên cứu “Quan niệm về hoạt động trải nghiệm và một số hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh phổ thông”, đã đề cập đến hoạt động TN nhƣ là một hoạt e 7 động mang tính tập thể trên tinh thần tự chủ cá nhân, với sự nỗ lực giáo dục giúp phát triển sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể. Đây là những hoạt động giáo dục đƣợc tổ chức gắn liền với kinh nghiệm, cuộc sống để học sinh trải nghiệm và sáng tạo.
Điều đó đòi hỏi các hình thức và phƣơng pháp tổ chức hoạt động TN phải đa dạng, linh hoạt, học sinh tự hoạt động, trải nghiệm là chính. Ở đây, tác giả cũng đƣa một số phƣơng pháp cơ bản mà giáo viên cần đƣợc trang bị để tổ chức các hoạt động TN cho học sinh: Phƣơng pháp giải quyết vấn đề; Phƣơng pháp sắm vai; Phƣơng pháp làm việc nhóm; Phƣơng pháp trò chơi. Tùy theo tính chất và mục đích của từng hoạt động cụ thể cũng nhƣ điều kiện, khả năng của các em mà giáo viên có thể lựa chọn một hay nhiều phƣơng pháp phù hợp. Điều quan trọng là phƣơng pháp đƣợc lựa chọn cần phát huy cao độ vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh và khai thác tối đa kinh nghiệm các em đã có [9].
Theo tác giả Bùi Ngọc Diệp, trong công trình nghiên cứu “Hình thức tổ chức các hoạt động TN trong nhà trường Phổ thông”, đã trình bày quan điểm về hoạt động TN: Hoạt động TN trong nhà trƣờng phổ thông đƣợc thực hiện nhằm mục tiêu đào tạo ra những con ngƣời có chí hƣớng, có đạo đức, có định hƣớng tƣơng lai, có năng lực sáng tạo, biết vận dụng một cách tích cực những kiến thức đã học vào thực tế, đồng thời biết chia sẻ và quan tâm tới mọi ngƣời xung quanh. Hoạt động TN về cơ bản mang tính chất là các hoạt động tập thể trên tinh thần tự chủ cá nhân, với sự nỗ lực nhằm phát triển năng lực sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể. Và các hình thức tổ chức hoạt động TN: Hoạt động câu lạc bộ; Tổ chức trò chơi; Tổ chức diễn đàn; Sân khấu tƣơng tác; Tham quan dã ngoại, Hội thi/ Cuộc thi; Tổ chức sự kiện; Hoạt động giao lƣu; Hoạt động chiến dịch; Hoạt động nhân đạo. Tùy thuộc vào đặc trƣng về văn hóa, khí hậu, đặc điểm vùng miền, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi địa phƣơng, nhà trƣờng có thể lựa chọn nội dung và hình thức tổ chức sao cho phù hợp và hiệu quả [4].
“Hoạt động trải nghiệm - Hoạt động quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông mới”, do tác giả Đinh Thị Kim Thoa, đã đề cập đến sự khác biệt giữa học đi đôi với hành, học thông qua làm và học từ trải nghiệm: “Thực hành, trải e 8 nghiệm đều là những phƣơng thức học hiệu quả, gắn với vận động, với thao tác vật chất, với đời sống thực. Việc học thông qua làm, học đi đôi với hành và học từ trải nghiệm đều giúp ngƣời học đạt đƣợc tri thức và kinh nghiệm nhƣng theo các hƣớng tiếp cận không hoàn toàn nhƣ nhau, trong đó trải nghiệm có ý nghĩa giáo dục cao nhất và có phần bao hàm cả làm và thực hành". Hoạt động TN là hoạt động giáo dục thông qua sự trải nghiệm và sáng tạo của cá nhân trong việc kết nối kinh nghiệm học đƣợc trong nhà trƣờng với thực tiễn cuộc sống, nhờ đó các kinh nghiệm đƣợc tích lũy thêm và dần chuyển hóa thành năng lực…. Tác giả Đỗ Ngọc Thống, trong công trình nghiên cứu “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo từ kinh nghiệm giáo dục quốc tế và vấn đề của Việt Nam”, đã phân tích kinh nghiệm giáo dục hoạt động TN của một số nƣớc cụ thể là Anh, Hàn Quốc và liên hệ đến Việt Nam.
Theo tác giả, giáo dục sáng tạo là một yêu cầu quan trọng trong chƣơng trình giáo dục phổ thông của rất nhiều nƣớc. Không có sáng tạo thì không thể có phát triển. Sáng tạo đòi hỏi mọi cá nhân phải nỗ lực, năng động, có tƣ duy độc lập. Trong chƣơng trình giáo dục của mỗi nƣớc, bên cạnh các hoạt động dạy và học qua các môn học còn có chƣơng trình hoạt động ngoài các môn học.
Ở đó, học sinh thông qua các hoạt động đa dạng và phong phú gắn với thực tiễn để trải nghiệm, thử sức. Các em vừa củng cố các kiến thức đã học, vừa có cơ hội sáng tạo trong vận dụng do yêu cầu của các tình huống cụ thể. Chƣơng trình hoạt động TN sẽ giúp nhà trƣờng gắn liền với cuộc sống, xã hội; giúp học sinh phát triển hài hòa giữa thể chất và tinh thần. Việc thực hiện chƣơng trình hoạt động TN ở nhà trƣờng phổ thông đƣợc các nƣớc phát triển thực hiện một cách linh hoạt, có nƣớc do nhà trƣờng tổ chức, có nƣớc do tổ chức xã hội kết hợp với nhà trƣờng để tổ chức chƣơng trình này một cách hài hòa vừa giúp học sinh trải nghiệm thực tiễn vừa học tốt các môn học chính khóa.
Ở Việt Nam, hoạt động TNST chƣa đƣợc chú ý đúng mức, chƣa có hình thức đánh giá và sử dụng kết quả các hoạt động giáo dục một cách phù hợp. Trong công trình nghiên cứu “Xây dựng và sử dụng mô hình hoạt động TNST trong dạy học Sinh học ở trường Trung học Phổ thông”, tác giả Trần Thị Gái, đã đƣa e 9 ra nhận định: Xây dựng mô hình hoạt động TN là một bƣớc quan trọng trong quá trình dạy học. Tổ chức tốt hoạt động TN sẽ đạt đƣợc mục tiêu dạy học sinh học: hình thành cho học sinh kiến thức, năng lực, kỹ năng sống. Bài viết xác định rõ định nghĩa, đặc điểm của hoạt động TN làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình hoạt động TN trong dạy học Sinh học.
Mô hình hoạt động TN cần đảm bảo: mục tiêu dạy học, tính chính xác, tính khoa học, tính thực tiễn, tính đa dạng. Thiết kế hoạt động TN trong dạy học Sinh học ở trƣờng phổ thông sẽ phát triển đƣợc năng lực của học sinh [7].