Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia và mọi thời đại. Bàn về khái niệm quản lý, các nhà khoa học trên thế giới có rất nhiều quan niệm khác nhau.
Trong luận văn này tác giả chỉ nêu ra một số khái niệm của các nhà khoa học tiêu biểu, nhằm tìm ra cái chung, sự thống nhất của các nhà khoa học về quản lý. Quản lý là một khái niệm ghép “quản” và “lý”. “Quản” có hàm nghĩa rất nghĩa rất phong phú: cai quản, thống trị, giữ gìn, theo dõi.Theo góc độ điều khiển, “quản” có thể hiểu là lái, điều khiển, chỉ huy, kiểm soát. Do đó, trong đời sống xã hội ngày càng phát sinh những khái niệm liên quan với từ “quản” như quản trị, quản giáo, quản thúc, quản tượng, quản gia,.
Còn “Lý” theo hàm nghĩa là khoa học, khách quan nâng cao hiệu quả hoạt động “quản”. Hiểu một cách ngắn ngọn thì quản lí là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức đề ra. - Khái niệm quản lý được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học và được tiếp cận tổng quát như: Theo F.W Taylor: Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm, sau đó thấy họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất [26, tr. F Aunapu: Quản lý hệ thống xã hội là một khoa học, nghệ thuật tác động vào hệ thống mà chủ yếu là những con đường trong hệ thống đó nhằm đạt được những mục tiêu quản lý mà trong đó mục tiêu kinh tế - xã hội là cơ bản [1, tr.
Theo tác giả Vũ Dũng, Nguyễn Thị Mai Lan cho rằng: Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó [13, tr. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý là tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [25, tr. 12 Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý về các mặt văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [16]. Theo tác giả Trần Quốc Thành: Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu; quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định [27, tr.
Như vậy, khái niệm quản lý thường được hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức thông qua kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra để chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt đến mục tiêu đúng ý chí của người quản lý và phù hợp với quy luật khách quan. Khái niệm quản lý giáo dục Bàn về “quản lý giáo dục là gì?”, các nhà lý luận và quản lý thực tiễn đã đưa ra một số ý kiến khác nhau. Các nhà quản lý giáo dục (QLGD) thực tiễn quan niệm rằng theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Theo học giả nổi tiếng M.
Konzacov: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp kế hoạch nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hẹ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng” [21, tr.V Khuđominxki: “Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý nghĩa và có mục đích của chủ thể, quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục chủ nghĩa cộng sản cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ” [22, tr. Đối với giáo dục Việt Nam, Quản lý giáo dục được hiểu là việc thực hiện đầy đủ các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra trên toàn bộ các hoạt động giáo dục và những cấu phần tài chính, vật chất của các hoạt động đó. Vì thế, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc định nghĩa: “Quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra. 13 Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang định nghĩa: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dụccủa Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [25, tr.
Tác giả Trần Kiểm đã nêu: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”. 39] Từ những quan điểm nêu trên chúng ta có thể hiểu: Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt được kết quả mong muốn (mục tiêu) một cách có hiệu quả nhất. Khái niệm hoạt động trải nghiệm Học tập dựa vào trải nghiệm là một chiến lược hay tiếp cận trong giáo dục, mà ở đó nhà sư phạm tổ chức hoạt động để người học trực tiếp tham gia khám phá, khai thác, điều chỉnh xúc cảm,nhận thức cũng như các hành vi liên quan đến nội dung học vấn cần lĩnh hội trên cơ sở vốn kinh nghiệm hiện có của mình. Học qua trải nghiệm là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm (theo Kold, 1984).
Học từ kinh nghiệm là quá trình xây dựng ý nghĩa trực tiếp từ kinh nghiệm. Hoạt từ trải nghiệm luôn gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân. Hoạt động trải nghiệm (HĐTN) là hoạt động ngoại khóa sau các giờ học trên lớp, có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động giảng dạy, được thực hiện nhằm mục tiêu đào tạo ra các thế hệ nhân tài có định hướng tương lai với đầy đủ nhân cách và sức sáng tạo, biết vận dụng một cách tích cực những kiến thức đã học vào thực tế, đồng thời biết chia sẻ và quan tâm tới mọi người xung quanh. Tác giả Đinh Thị Kim Thoa vận dụng lí thuyết học từ trải nghiệm của Kolb (1984) về HĐTN.
Theo tác giả, để phát triển sự hiểu biết khoa học, chúng ta có thể tác động vào nhận thức của người học nhưng để phát triển và hình thành năng lực thì người học phải trải nghiệm. HĐTN là hoạt động giáo dục thông qua sự trải nghiệm 14 của cá nhân trong việc kết nối kinh nghiệm học được trong nhà trường với thực tiễn đời sống, nhờ đó các kinh nghiệm được tích lũy thêm và dần được chuyển hoá thành năng lực 28, tr 32. Trong luận văn này chúng tôi sử dụng khái niệm: Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục, trong đó dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc xã hội qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, phẩm chất nhân cách, các năng lực và tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiền năng sáng tạo của cá nhân”. Khái niệm dạy học phát triển năng lực trẻ mầm non Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là mô hình dạy học nhằm phát triển tối đa năng lực của người học.
Trong đó, người học tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của người dạy. Trong giáo dục từ chủ yếu bổ sung, cung cấp kiến thức sang giáo dục phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực cho học sinh trên nguyên lý: Lý luận gắn với thực tiễn, học phải đi đôi với hành. Theo quan điểm của Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực nay còn gọi là chương trình dạy học định hướng kết quả đầu ra (outcomes based curriculum - OBC) hay nói rộng hơn là giáo dục định hướng kết quả đầu ra (Outcome-based Education – OBE), còn gọi là giáo dục điều khiển đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đang nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia [10, tr. Dạy học phát triển năng lực chú trọng vào chất lượng đầu ra, có thể coi là sản phẩm cuối cùng của quá trình dạy học, tức là kết quả học tập của học sinh.
Dạy học phát triển năng lực đáp ứng mục tiêu nhằm phát triển một cách toàn diện về giáo dục các phẩm chất nhân cách con người, đặc biệt quan tâm đến năng lực vận dụng kiến thức đã học áp dụng trong những tình huống thực tiễn, chuẩn bị cho học sinh những năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống một cách chủ động và hiệu quả nhất. Dạy học phát triển năng lực chú trọng đến người học với tư cách là chủ thể của quá trình nhận thức.