Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở trường trung học phổ thông Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở trường Trung học phổ thông Đồng Bành, tỉnh Lạng Sơn. Biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở trường Trung học phổ thông Đồng Bành, tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay.
4 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Sơ lƣợc tổng quan vấn đề nghiên cứu Hoạt động TCM là hoạt động quan trọng trong các hoạt động của nhà trường. Nâng cao chất lượng hoạt động TCM góp phần nâng cao chất lượng GD của các nhà trường. Trong các công trình nghiên cứu về quản lý GD đã có một số công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động của các TCM trong nhà trường trong có thể kể đến là các công trình của các tác giả : Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Hà Sỹ Hồ.
Các tác giả đề cập đến các vấn đề chung về quản lý GD, lý luận quản lý GD, các nội dung về quản lý TCM và các nội dung khác về quản lý GD. Các tác giả đã đề cập về vấn đề đội công tác trong một tổ chức. TCM là tổ chức nằm trong nhà trường vì vậy nghiên cứu về hoạt động TCM là nghiên cứu về vấn đề đội công tác trong tổ chức. Đây là nội dung liên quan đến vấn đề sát với hoạt động TCM trong nhà trường THPT.
Trong những năm gần đây, đã có nhiều đề tài luận văn thạc sĩ, nhiều tác giả nghiên cứu về quản lý nâng cao chất lượng hoạt động TCM. - “Các biện pháp quản lý nhằm phát huy hiệu quả hoạt động của tổ chuyên môn tại Trường THPT chuyên Bắc Giang” của Ngô Văn Bình (2006). - “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng các trường THPT huyện Yên Khánh - Ninh Bình trong bối cảnh hiện nay” của Đỗ Văn Thông (2008). - “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trường Trung học cơ sơ trên địa bàn huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay” của Đỗ Trọng Khanh (2010).
Các nghiên cứu trên nhìn chung đã bàn một số các biện pháp quản lý trên cơ sở quản lý hoạt động DH, TCM trong nhà trường. Tuy nhiên, các tác giả chưa đề cập đến nhiều các các biện pháp để phát huy được vai trò, khả 5 z năng, năng lực tự chủ của TCM, các giải pháp xây dựng TCM. Vấn đề quản lý hoạt động TCM là một vấn đề khó khăn, phức tạp nhưng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao chất lượng DH và chất GD trong nhà trường. Tuy nhiên, việc nghiên cứu quản lý hoạt động TCM trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn chưa có tác giả hay đề tài nào nghiên cứu.
Để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động TCM trên cơ sở nghiên cứu sơ lược cơ sở lý luận và thực trạng quản lý hoạt động TCM ở trường THPT Đồng Bành, tỉnh Lạng Sơn, đề tài đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động TCM ở trường THPT Đồng Bành, tỉnh Lạng Sơn góp phần nâng cao chất lượng GD của nhà trường và của tỉnh Lạng Sơn. Các khái niệm công cụ 1. Quản lý và chức năng quản lý 1. Quản lý Hoạt động quản lý xuất hiện rất sớm từ khi con người biết hợp sức lại với nhau để thực hiện một mục đích nào đó.
Từ thời thượng cổ, trung cổ đến thời hiện đại, trải qua hàng nghìn năm lịch sử phát triển hoạt động quản lý đã có những phát triển và trở thành bộ môn khoa học quản lý. Có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý. Về khái niệm quản lý còn có rất nhiều định nghĩa khác nhau: C.Mac đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều đều cần đến một sự chỉ đạo điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của các khí quan độc lập với nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.
Taylor cho rằng quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. 327] Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, khái niệm về quản lý được định nghĩa như sau: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”.
9] Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “Quản lý là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”. 25] Từ những quan niệm của các học giả đã nêu, chúng ta có thể rút ra nhận xét sau: Tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng những định nghĩa trên đều thể hiện được bản chất của hoạt động quản lý đó là hoạt động quản lý nhằm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đã đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lượng mới. Quản lý là hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý. Chủ thể tiến hành những hoạt động theo các chức năng quản lý như xác định mục tiêu, các chủ trương, chính sách; hoạch định kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo thực hiện, kiểm tra để thực hiện các mục tiêu quản lý.
Trong quản lý có hai bộ phận khăng khít, đó là chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hay một nhóm người có chức năng quản lý hay điều khiển tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt tới mục tiêu. Khách thể quản lý bao gồm những người thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục 7 z tiêu chung. Chủ thể quản lý làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể quản lý sản sinh ra vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu con người, đáp ứng mục đích của chủ thể quản lý.
Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản, quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau : + Có (ít nhất một) chủ thể quản lý và đối tượng quản lý tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý và các khách hể có quan hệ gián tiếp với chủ thể quản lý. + Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng quản lý và chủ thể quản lý. + Chủ thể phải thực hành việc tác động và phải biết tác động. Vì thế đòi hỏi chủ thể phải biết tác động và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả.
+ Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, hoặc một cơ quan quản lý, còn đối tượng quản lý có thể là con người, giới vô sinh hoặc sinh vật. + Khách thể là các yếu tố tạo nên môi trường của hệ thống. - Mục tiêu của quản lý là tăng giá trị cho tổ chức. Như vậy, có thể khái quát: quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra.
Sự tác động của quản lý phải bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội. Quản lý vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật, quản lý được xem là một nghề nhằm dẫn dắt trong một hoàn cảnh nhất định, một nhóm người, để đạt được các mục tiêu phù hợp với mục đích của tổ chức do vậy mà người quản lý cần phải hội tụ đầy đủ các yếu tố về kiến thức quản lý, về kỹ năng, nghiệp vụ quản lý, vừa như một nhà quân sự, vừa như một nhà tâm lý, một nhà sư phạm mẫu mực, một nghệ sĩ sân khấu, vừa phải có một trái tim “nóng”, vừa phải có một cái đầu “lạnh”. Chức năng quản lý Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý.
Ta có thể hiểu chức năng quản lý là một nội dung cơ bản của quá trình quản lý, là nhiệm vụ không thể thiếu được của chủ thể quản lý. Về số lượng các chức năng quản lý nói chung, những tác giả nghiên cứu về quản lý có ý kiến không giống nhau. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả đều đề cập tới bốn chức năng chủ yếu đó là: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và trong đó thông tin vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để thực hiện chức năng quản lý. - Chức năng kế hoạch hoá: Để thực hiện chủ chương, chương trình, dự án kế hoạch hoá là hành động đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các chức năng khác.
Đây được coi là chức năng chỉ lối làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch. Trong quản lý đây là căn cứ mang tính pháp lý quy định hành động của cả tổ chức. - Chức năng tổ chức: Người quản lý phải hình thành bộ máy tổ chức là cơ cấu các bộ phận (tuỳ theo tính chất công việc, có thể tiến hành phân công, phân nhiệm cho các cá nhân), quy định chức năng nhiệm vụ từng bộ phận, mối quan hệ giữa chúng. Như vậy thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ, liên hệ giữa con người với con người, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống hoạt động nhịp nhàng của một cơ thể thống nhất.