Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường trung học cơ sở; Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THCS trên địa bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay; Chương 3. Biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THCS trên địa bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.
5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN TẠI TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1 1 Tổn qu n n ên ứu vấn đề Nghiên cứu về quản lý hoạt động tổ CM đang là vấn đề cần thiết trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Trong giai đoạn hiện nay giáo dục đang đổi mới căn bản và toàn diện, trong đó bước đột phá là đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới sách giáo khoa, phương pháp dạy học, chuyển mạnh từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực của người học. Để thực hiện tốt việc đổi mới này yêu cầu nhà quản lý giáo dục phải nắm vững các văn bản chỉ đạo, tổ chức điều hành các hoạt động để đạt hiệu quả. Do vậy quản lý hoạt động tổ chuyên môn là giúp cho đội ngũ giáo viên nắm chắc các cơ sở lý luận và vận dụng vào thực tiễn hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
Tổ chuyên môn là đơn vị cơ sở gắn bó với người giáo viên giảng dạy. Ở đây diễn ra mọi hoạt động có liên quan đến toàn bộ hoạt động nghề nghiệp của người GV, là một bộ phận không thể thiếu trong mỗi nhà trường và là nơi bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của GV trong nhà trường. Vì thế, quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn đang đặc biệt được quan tâm. Tại Việt Nam đã công bố một số công trình nghiên cứu về sinh hoạt tổ chuyên môn như: - Phạm Đức Bách, 2010, Một số hình thức sinh hoạt chuyên môn ở trường trung học cơ sở nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học, Tạp chí Giáo dục Số 235 tr.
58-59 - Vũ Thị Sơn, 2011, Đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng xây dựng văn hóa học tập ở nhà trường thông qua "NCBH", Tạp chí Giáo dục Số 269 tr. - Nguyễn Mậu Đức, Lê Huy Hoàng, ĐHSP ĐH Thái Nguyên, 2012, Phương pháp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GV, SV Sư phạm thông qua mô hình NCBH (Tạp chí GD). - Tháng 8 năm 2013, BGD&ĐT tiến hành tập huấn cho các CBQL và các tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn của các SGD về Hướng dẫn SHCM theo NCBH. 6 z Việc triển khai NCBH đã được BGD & ĐT tiếp tục chỉ đạo trong nhiệm vụ năm học 2014-2015.
Một số luận văn Thạc sỹ khoa học giáo dục, nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn trong nhà trường phổ thông như: - Nguyễn Minh Đăng, 2012, Biện pháp quản lý TCM của HT trường THPT huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục. - Nguyễn Ngọc Toán, 2013, Quản lý hoạt động của tổ chuyên môn ở trường THPT công lập tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục. - Trần Công Nhị, 2014, Quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn của Hiệu trưởng trường THPT Quang Trung, huyện Đak Mil, tỉnh Đak Nông, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục. Mỗi luận văn lại đi sâu nghiên cứu một phạm vi, nhưng hầu hết các luận văn này tập trung nghiên cứu đến vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý TCM của HT và TTCM.
Trong khuôn khổ luận văn này sẽ đi sâu hơn để xác định cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn và trên cơ sở đó để có thể đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THCS trên địa bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. 1 2 Cá á n ệm ó l ên qu n đến vấn đề n ên ứu 1. Quản lý và chức năng quản lý 1. Quản lý Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, quản lý là: "Quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra" [9, tr.
Quản lý là quá trình tác động có kế hoạch, có chủ đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức, đưa tổ chức đạt đến mục tiêu đã xác định. Nói cách khác, quản lý là quá trình thực hiện các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra để đưa tổ chức đạt đến mục tiêu đã đề ra Trong quản lý có hai bộ phận khăng khít, đó là chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hay một nhóm người có chức năng quản lý hay điều khiển tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt tới mục tiêu. Khách thể 7 z quản lý bao gồm những người thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung.
Những quan niệm trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản, quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau: + Có (ít nhất một) chủ thể quản lý và đối tượng quản lý tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý và các khách thể có quan hệ gián tiếp với chủ thể quản lý. + Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, hoặc một cơ quan quản lý, còn đối tượng quản lý có thể là con người, giới vô sinh hoặc sinh vật. + Khách thể là các yếu tố tạo nên môi trường của hệ thống Như vậy, có thể khái quát: quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và phạm vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra. Sự tác động của quản lý phải bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội.
Quá trình tác động đó thể hiện qua mô hình về quản lý dưới đây: Công cụ quản lý Mục tiêu Chủ thể Khách thể quản lý quản lý quản lý Phương pháp quản lý Sơ đồ 1. Mối quan hệ giữa các thành tố của quản lý 1. Chức năng quản lý Xét theo quá trình quản lý có bốn chức năng quản lý cơ bản mà người quản lý dù ở cấp quản lý nào cũng phải thực hiện đó là: + Chức năng kế hoạch hóa: Là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các biện pháp tốt nhất để đạt mục tiêu đó. Nội dung thực hiện chức năng kế hoạch gồm: 8 z - Phân tích bối cảnh, xác định mục tiêu phát triển tổ chức.
- Lập kế hoạch thực hiện mục tiêu. - Triển khai thực hiện kế hoạch. - Đánh giá, điều chỉnh kế hoạch (nếu cần) + Chức năng tổ chức: Là quá trình tiếp nhận, phân phối, sắp xếp các nguồn lực tạo ra một cơ cấu tổ chức thích hợp đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu đề ra để tổ chức phát triển. Nội dung thực hiện chức năng tổ chức gồm: - Xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lý và năng động, phù hợp với yêu cầu thực thi nhiệm vụ.
- Xây dựng, phát triển đội ngũ đảm bảo yêu cầu của tổ chức. - Xác lập mối quan hệ và cơ chế hoạt động. - Tổ chức các công việc khoa học. + Chức năng chỉ đạo: Là quá trình tác động, ảnh hưởng tới hành vi thái độ của cấp dưới thông qua các hoạt động hướng dẫn, giúp đỡ, đôn đốc, động viên và thúc đẩy những người dưới quyền làm việc với hiệu quả cao nhất nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Nội dung thực hiện chức năng chỉ đạo gồm: - Thực hiện quyền chỉ huy, giao việc và hướng dẫn triển khai nhiệm vụ. - Đôn đốc, động viên, kích thích tạo đông lực làm việc cho nhân viên. - Giám sát, sửa chữa đảm bảo các hoạt động đúng hướng, bám sát yêu cầu thực thi kế hoạch của tổ chức. - Xây dựng môi trường thúc đẩy các hoạt động phát triển.
+ Chức năng kiểm tra: Là quá trình xem xét thực tiễn, đánh giá thực trạng, khuyến khích những cái tốt, phát hiện những sai phạm, điều chỉnh nhằm đạt tới những mục tiêu đặt ra và góp phần đưa toàn bộ hệ thống được quản lý lên một trình độ cao hơn. Nội dung thực hiện chức năng kiểm tra gồm: - Xác định các tiêu chuẩn để đánh giá. - Đánh giá kết quả thực tế: thu thập thông tin về đối tượng kiểm tra. - So sánh kết quả đo đạc thực tế với chuẩn để phát hiện mức độ thực hiện tốt, vừa, xấu của các đối tượng quản lý.
Bao gồm: tư vấn (uốn nắn, sửa chữa); thúc đẩy (phát huy thành tích tốt); hoặc xử lý. Các chức năng quản lý có sự đan xen kết hợp hỗ trợ và thúc đẩy nhau để cùng thực hiện mục tiêu của quá trình quản lý. Có thể mô tả vị trí của các chức năng trong một quá trình quản lý như sau: Kế hoạch hóa Kiểm tra Thông tin Tổ chức quản lý Chỉ đạo Sơ đồ 1. Các chức năng quản lý 1.
Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là gì, cũng được các nhà lý luận và quản lý thực tiễn đưa ra một số định nghĩa dưới các góc độ khác nhau: Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “ Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” (Phạm Minh Hạc, Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục, 1986.61,NXB Giáo dục). Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý giáo dục đến hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.