Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Kiểm định chất lượng (KĐCL) là một trong những hoạt động của hệ thống đảm bảo chất lượng (ĐBCL), là biện pháp hữu hiệu được nhiều nước trên thế giới sử dụng để nâng cao chất lượng giáo dục. Trên thế giới KĐCL xuất hiện từ khá lâu ở mỗi Châu lục, mỗi quốc gia đều xây dựng mô hình KĐCL theo đặc thù riêng của mình, trong đó có một số mô hình nổi bật có ảnh hưởng tới việc hình thành KĐCL tại Việt Nam như: Mô hình của Mỹ Ở Mỹ từ cuối thế kỷ 19 Kiểm định chất lượng là công cụ đảm bảo chất lượng giáo dục và được sử dụng chủ yếu nhằm tăng cường trách nhiệm giải trình ở nhiều hệ thống giáo dục đại học trên thế giới.
KĐCL được định nghĩa là “quá trình một tổ chức chính phủ hoặc tư nhân đánh giá chất lượng của toàn bộ cơ sở giáo dục đại học hoặc của một chương trình giáo dục cụ thể nhằm chính thức công nhận cơ sở hoặc chương trình đã đáp ứng những tiêu chuẩn hoặc tiêu chí tối thiểu nào đó do tổ chức đánh giá đặt ra” (Vlăsceanu, et al. Một số đặc điểm cơ bản ở Mỹ là kiểm định luôn luôn gắn liền với công tác tự đánh giá.Thông qua tự đánh giá, trường được kiểm định cung cấp thông tin và các tài liệu cần thiết cho công tác kiểm định.Về quy trình kiểm định, việc kiểm định luôn gắn liền với đánh giá đồng cấp, tức là những người có cùng chuyên môn tham gia đánh giá.Đối với chuẩn mực đánh giá thì các chuẩn mực đánh giá ở đây thường mềm dẻo và được biến đổi cho phù hợp với sứ mạng của từng trường. 12 Đặc điểm quan trọng đối với kiểm định ở Mỹ là mục đích của KĐCL không chỉ đảm bảo trường có trách nhiệm với chất lượng đào tạo mà còn mang lại động lực cải tiến và nâng cao chất lượng CTĐT. Về nội dung kiểm định chương trình, ở Mỹ đã xác định việc kiểm định không chỉ tập trung đánh giá các yếu tố đầu vào mà còn chú trọng cả quá trình đào tạo và chất lượng sinh viên tốt nghiệp ra trường.
Tóm lại, hệ thống ĐBCL và KĐCL của Mỹ là hệ thống tự chủ và phản ảnh nền văn hóa Mỹ. Mặc dù có nhiều tổ chức thực hiện việc KĐCL, nhưng chỉ có những tổ chức nào đủ tư cách pháp nhân và được công nhận bởi Bộ trưởng Giáo dục Mỹ (USDOE) hoặc bởi Ủy ban Kiểm định giáo dục đại học (CHEA) mới được coi là hợp pháp. KĐCL ở Mỹ thực hiện hai chức năng: Đối với xã hội - là sự ĐBCL; đối với trường - cải thiện chất lượng. Những đặc trưng có thể thấy ở KĐCL ở Mỹ là: Phi chính phủ, trung thực và tự nguyện (Warren Piper.
Ngoài Mỹ, thì KĐCL còn là công cụ phổ biến nhất trong ĐBCL giáo dục đại học trên thế giới. Những quốc gia có nền giáo dục phát triển ở châu Âu như Hà Lan, Bỉ, Đức, đã sử dụng KĐCL từ nhiều năm nay. Ở khu vực Đông Âu, các nước như Albania, Bulgaria, Hungary, and Romania cũng bắt đầu sử dụng KĐCL từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước. Các nước Mỹ La tinh và vùng Vịnh như Oman, Kuwait, Qatar, Arab Xeut hay Chi Lê cũng không đứng ngoài xu hướng này.
Mô hình của Đông Nam Á Ở khu vực châu Á và châu Á Thái Bình Dương, KĐCL có mặt ở khắp mọi nơi từ Australia Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Brunei, Lào và Cam-pu-chia. Đặc biệt khu vực Đông Nam Á đã phát triển hệ thống KĐCL riêng được biết đến với tên gọi AUN- QA dành cho các trường đại học trong khu vực. Trong “Sổ tay hướng dẫn và thực hiện” (2004) của tổ chức AUN-QA đã nêu rõ: Mô hình ĐBCL ở các 13 quốc gia Đông Nam Á rất đa dạng. Nhưng điểm chung là hầu hết các cơ quan ĐBCL quốc gia đều do nhà nước thành lập, được nhà nước cấp kinh phí và chủ yếu thực hiện nhiệm vụ kiểm định (QA Focus team at UKOLN and AHDS, 2005).
Việc xây dựng hệ thống ĐBCL của AUN được khởi xướng từ năm 1998 bởi Chủ tịch đầu tiên của Hội đồng quản trị AUN (AUN-BOT) là giáo sư, tiến sĩ Vanchai Sirichana. Từ khi thành lập, AUN có 13 thành viên là các trường hàng đầu của 10 nước trong khu vực; đến nay đã có 30 trường thành viên (Trong đó Việt Nam có Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh và gần đây vừa kết nạp thêm Đại học Cần Thơ). Cuộc họp lần thứ IV của Hội đồng quản trị AUN tổ chức tháng 6/1998 đã đánh giá hệ thống ĐBCL của AUN là vấn đề quan trọng hàng đầu cần ưu tiên phát triển. Để thực hiện cam kết này, Hội đồng quản trị AUN đã coi năm 1999 là năm chất lượng giáo dục của AUN và thành lập một nhóm đặc trách của Mạng lưới.
Nhóm đặc trách này bao gồm các cán bộ nòng cốt quản lí chất lượng tại các trường đại học thành viên. Hệ thống ĐBCL của Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á có mục đích xây dựng một bộ tiêu chuẩn chất lượng chung thông qua việc chia sẻ kinh nghiệm và các điển hình tốt. AUN công nhận tầm quan trọng về chất lượng trong GDĐH và nhu cầu để phát triển một hệ thống ĐBCL chuẩn để phát triển những tiêu chuẩn học thuật và nâng cao CLGD, nghiên cứu và dich vụ giữa những trường thành viên AUN.Vào năm 1998, nhu cầu này hướng đến sự phát triển của mô hình AUN - QA.Vào thập kỷ trước, AUN-QA đã được khuyến khích, phát triển và tiến hành ĐBCL dựa trên quy trình kinh nghiệm nơi mà các hoạt động đảm bảo chất lượng được chia sẻ, kiểm tra, đánh giá và cải tiến liên tục. Mô hình ĐBCL của AUN-QA bao gồm các khía cạnh liên quan đến chiến lược, hệ thống và chiến thuật và phụ thuộc vào cả ĐBCL bên trong và 14 ĐBCL bên ngoài trong đó có KĐCL như mô hình dưới đây (Theo ASEAN University Network, 2015): Sơ đồ 1.
Mô hình ĐBCL của AUN -QA 2015 (Version No.3) Trong GDĐH, kiểm định là quá trình đánh giá chất lượng từ bên ngoài theo các tiêu chuẩn và tiêu chí xác định trước nhằm ĐBCL, cải tiến chất lượng và cấp giấy chứng nhận hoặc công nhận chất lượng cho cơ sở GD (trường đại học, cao đẳng) hoặc chương trình GD. Mô hình ĐBCL của AUN - QA được áp dụng cho các trường đại học của ASEAN và thống nhất giữa khung đảm bào chất lượng vùng và quốc tế. Ngoài Mỹ, các nước Đông Nam Á thì KĐCL còn là công cụ phổ biến nhất trong ĐBCL giáo dục đại học trên thế giới. Những quốc gia có nền giáo dục phát triển ở châu Âu như Hà Lan, Bỉ, Đức, đã sử dụng KĐCL từ nhiều năm nay.
Ở khu vực Đông Âu, các nước như Albania, Bulgaria, Hungary, and Romania cũng bắt đầu sử dụng KĐCL từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước. Các nước Mỹ La tinh và vùng Vịnh như Oman, Kuwait, Qatar, Arab Xeut hay Chi Lê cũng không đứng ngoài xu hướng này. Bên cạnh hệ thống KĐCLGD mang tính khu vực và quốc gia thì có những nghiên cứu tiêu biểu trong lĩnh vực quản lí chất lượng giáo dục của các cá nhân, có thể kể đến: 15 Trong những năm 40, Joseph M. Juran là người đầu tiên đưa ra quan điểm “Chất lượng phù hợp với phương tiện kỹ thuật”.
Ông cũng là người đề cập tới khía cạnh rộng lớn của việc điều khiển chất lượng và quản lí chất lượng. Ông đặc biệt chú ý đến nhân tố con người. Theo ông thì trên 80% những sai hỏng về CL là do QL gây ra. Từ đó, ông đòi hỏi mọi người, đặc biệt là các nhà QL, phải được đào tạo về CL (Nguyễn Km Định, 2010).
đã phân tích một số hình thức ĐG trong QL CL GD. Mỗi cách tiếp cận nhấn mạnh một hay một số yếu tố của hệ thống đảm bảo CL. Kiểm định tập trung vào đánh giá ngoài, sử dụng thanh tra đồng nghiệp và công nhận chương trình đào tạo hay cơ sở GD. Đánh giá sản phẩm đầu ra dựa vào các chỉ số thực hiện và xem xét sự tiến bộ của học sinh từ khi vào trường cho đến khi ra trường (Phạm Thành Nghị, 2000).
Trong công trình “Đảm bảo chất lượng giảng dạy đại học: Vấn đề và cách tiếp cận”, tác giả Ellis.R (1993) đã đưa ra nhận xét: Trong môi trường kinh doanh, ĐBCL được xem là một quá trình “nơi mà một nhà sản xuất đảm bảovới khách hàng là sản phẩm hay dịch vụ của mình luôn đáp ứng được chuẩn mực” (Ellis.D (1993), trong tác phẩm “Quản lý chất lượng trong các trường học” đã xác định các chức năng ĐBCL của cơ sở đào tạo bao gồm: xác lập chuẩn, xây dựng quy trình, xác định tiêu chí đánh giá và vận hành, đo lường, đánh giá, thu thập và xử lý số liệu (Warren Piper. Theo Dorothy (1993), trong tác phẩm “Đảm bảo chất lượng trong giáo dục và đào tạo”, ĐBCL là một cách tiếp cận mà công nghiệp sản xuất sử dụng nhằm đạt được chất lượng tốt nhất. ĐBCL là một cách tiếp cận có hệ thống nhằm xác định nhu cầu thị trường và điều chỉnh các phương thức làm việc nhằm đáp ứng được các nhu cầu đó (Dorothy Myers and Robert Stonihill, 1993). 16 Năm 1994, Theo Annesley, King và Harte để đảm bảo kết quả của một hệ thống GD có thể đạt được chất lượng như ý, một hệ thống đảm bảo chất lượng trong thế kỷ mới phải quan tâm đến các quá trình: thiết kế và nội dung của các môn học, sự truyền tải và ĐG kết quả, ĐG tổ chức, giám sát, xem xét và quản lí nói chung (Nguyễn Kim Dung, 2007).
Tiếp sau đó vào năm 1995, Kell đã xác định 2 mô hình TĐG chính của cơ sở GD là mô hình thành tố và mô hình quá trình (Kells H. Như vậy, KĐCLGD trải qua một quá trình hình thành và phát triển đã có rất nhiều mô hình mang đặc thù khu vực, quốc gia cũng như công trình nghiên cứu trên thế giới về nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề KĐCL trong đó có tự đánh giá, gồm: các nghiên cứu về hệ thống ĐBCL, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng, các phương pháp quản lí chất lượng, hình thức đánh giá trong quản lí CLGD…Đây đều là những mô hình, công trình nghiên cứu mà Việt Nam xem xét, tham khảo khi hình thành mô hình KĐCL cho riêng mình.