mở đầu cho một nền giáo dục tốt” đến các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX đều nhấn mạnh nhiệm vụ “Chăm lo phát triển giáo dục mầm non”. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia giáo dục cho mọi người 2003 - 2015” với mục tiêu đảm bảo tất cả trẻ em đều hoàn thành một năm giáo dục tiền học đường có chất lượng để chuẩn bị đi học tiểu học [20],[16]. Các quan điểm của Đảng được thể hiện trong một số văn bản của Nhà nước: - Luật Giáo dục (2005) ở các Điều 21, 22, 23, 24, 25 cụ thể hóa mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình và các cơ sở giáo dục mầm non [35, tr. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004) đã nêu trẻ em có quyền được chăm sóc ở các điều 5, 12, 17, 18, 28 [36, tr.
- Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao đề ra những yêu cầu cụ thể nhằm phát huy nội lực của toàn xã hội đi đôi với việc sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước dành cho giáo dục, tạo điều kiện cho GDMN ngày càng đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về quy mô, chất lượng và công bằng trong phát triển [17, tr. - Quyết định số 149/2006/QĐ-TTg ngày 23 tháng 6 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển GDMN giai đoạn 2006 - 2015 thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển giáo dục mầm non thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tiếp thu các lý luận và kinh nghiệm của các nước tiên tiến trên thế giới. Đề án cũng đã tổng kết, phân tích và đánh giá thực trạng giáo dục mầm non cả nước và mỗi vùng miền trong hơn 10 năm qua; trên cơ sở đó, đặt yêu cầu phát triển giáo dục mầm non trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước [15, tr. Tài liệu “Quản lý giáo dục mầm non” (Năm 1994) của trường CĐSP Nhà trẻ - Mẫu giáo Trung ương số 1 đã đề cập khá nhiều về nguyên tắc, phương pháp, cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, năng lực, phẩm chất nhân cách khi tham gia vào công tác quản lý trong các cơ sở GDMN [13].
Riêng về quản lý hoạt động giáo dục mầm non có các văn bản, tài liệu, công trình nghiên cứu như sau: Năm 2006 có báo cáo tổng kết đề tài “Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục mầm non” của tác giả Trần Lan Hương. Tác giả Lê Thu Hương ở Trung tâm nghiên cứu chiến lược và phát triển chương trình giáo dục mầm non về “Những điểm mới của chương trình giáo dục mầm non” [25], [24]. Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc nâng cao chất lượng chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ 3 - 6 tuổi trong trường mầm non” (Năm 2004) của Lê Thu Hương. Tháng 7/2005 có báo cáo đề tài “Một số vấn đề về chất lượng giáo dục mầm non” của tác giả Nguyễn Văn Lê - giảng viên trường CĐSP mẫu giáo Trung ương 1 tại hội thảo đánh giá chất lượng giáo dục lý luận và thực tiễn [23], [30].
Một số luận văn thạc sĩ khoa học QLGD đã nghiên cứu hoạt động quản lý giáo dục tại các cơ sở GDMN tiêu biểu như: “Biện pháp quản lý giáo dục mầm non tư thục ở Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ” (tác giả Nguyễn Thị Hoài An - 1998), “Biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quận Tân Phú thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 - 2010” (Tác giả Nguyễn Thị Vân Anh, HCM, 2006); Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Châu với đề tài “Biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường mầm non huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng” năm 2006; "Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo của Hiệu trưởng các trường mầm non quận 10 - Thành phố Hồ Chí Minh" (Tác giả Vũ Thị Thu Thảo, TPHCM, 2005); "Các biện pháp tăng cường QL đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng trường mầm non Quận Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh" (Tác giả Trần Thị Kim Thoa, HCM, 2006); …. Dưới góc độ, phạm vi thực tiễn nhất định, mỗi công trình nghiên cứu vừa kể trên đều bàn về GDMN, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDMN [1], [2], [12], [37],[38]. Từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi đề xuất tiến hành nghiên cứu “Quản lý hoạt động giáo dục ở trường Mầm non Vĩnh Quỳnh, Huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội”; đề tài sẽ đưa ra thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ở trường mầm non Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục có tính cấp thiết, tính khả thi phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương trong công tác quản lý hoạt động giáo dục phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý Quản lý không những là một hoạt động cụ thể mà đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật và trở thành một trong những nghề phức tạp nhất trong xã hội hiện đại - nghề quản lý. Chính vậy mà lý luận về QL ngày càng phong phú và phát triển. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau xung quanh khái niệm “Quản lý”: Theo Harold Koontz (Mỹ) thì: “QL là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Mục tiêu của nhà QL là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.
Với tư cách thực hành thì QL là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì QL là khoa học” [27]. Theo Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ trong tác phẩm "Những vấn đề cốt yếu trong quản lý” (1987) quan niệm rằng: "Quản lý là một quá trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống, là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn" [26, tr. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Phạm Khắc Chương trong tài liệu “Đại cương về khoa học QL giáo dục” (2009), thì: QL là một khái niệm ghép “quản” và “lí’.
“Quản” có hàm nghĩa phong phú: cai quản, thống trị, gìn giữ, theo dõi,…Theo góc độ điều kiện, quản có thể hiểu là lái, điều khiển, chỉ huy, kiểm soát,… Do đó, trong đời sống xã hội ngày càng phát sinh những khái niệm liên quan với từ “quản” như quản giáo, quản thúc, quản tượng, quản gia, quản trị,….”Lí” theo hàm nghĩa là khoa học, khách quan nâng cao hiệu quả hoạt động “quản” [18]. Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc định nghĩa: “Hoạt động QL là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (Người quản lý) đến khách thể QL (Người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [14]. Từ các cách tiếp cận nêu trên, ta thấy có một điểm chung nhất khi quan niệm về Quản lý: Quản lý là hoạt động có mục đích của con người, quản lý với tư cách là một hành động thì quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu chung. Quản lý là một hoạt động thực hiện những tác động hướng đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý để khai thác có hiệu quả những tiềm năng và cơ hội tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức đặt ra.
Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định. Chức năng của QL: + Chức năng lập kế hoạch: Đây là giai đoạn đầu tiên và quan trọng nhất trong chu trình QL, kế hoạch hóa là tổ chức công việc theo kế hoạch, đưa mọi hoạt động vào kế hoạch có mục tiêu cụ thể, biện pháp rõ ràng, xác định các điều kiện, nguồn lực để thực hiện mục tiêu trong khoảng thời gian nhất định. + Chức năng tổ chức: Là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc một cách khoa học, hợp lý cho các bộ phận, các thành viên để mọi người có thể hoạt động một cách thuận lợi, hào hứng nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu đã xây dựng, duy trì cơ cấu nhất định về vai trò, nhiệm vụ, vị trí công tác. Trong chu trình QL thì tổ chức là giai đoạn đưa vào thực hiện những ý tưởng đã được kế hoạch hóa để từng bước đưa tổ chức tiến đến mục tiêu.
+ Chức năng chỉ đạo: Là quá trình tác động đến các thành viên của tổ chức, là những hành động xác lập quyền chỉ huy, sự can thiệp của người lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, huy động, điều hành mọi lực lượng thực hiện kế hoạch trong trật tự, làm cho họ nhiệt tình, tự giác nỗ lực phấn đấu để nhanh chóng đưa tổ chức đạt tới mục tiêu đề ra. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Chức năng kiểm tra: Là một quá trình thiết lập và thực hiện các cơ chế thích hợp để đảm bảo đạt được các mục tiêu của tổ chức. Kiểm tra không những giúp cho việc đánh giá thực chất đạt được của tổ chức mà còn có tác dụng điều chỉnh kịp thời mục tiêu, kế hoạch cho phù hợp với tình hình thực tế. Bốn chức năng trên của quản lý có mối quan hệ mật thiết và biện chứng với nhau.
Các chức năng này xuyên suốt trong tất cả các khâu của quá trình QL. Để thành công trong quá trình QL, nhà QL phải thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chức năng QL này.