phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong 03 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDKNTL cho trẻ 5-6 tuổi ở các trƣờng mầm non. Thực trạng quản lý hoạt động GDKNTL cho trẻ mầm non 5- 6 tuổi ở Trƣờng Mầm non Phong Khê, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Biện pháp quản lý hoạt động GDKNTL cho trẻ mầm non 5- 6 tuổi ở Trƣờng Mầm non Phong Khê, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 C Ơ S Ở L Ý L U Ậ N V Ề Q U Ả N L Ý H O Ạ T Đ Ộ N G G I Á O D Ụ C K Ỹ N Ă N G T Ự L Ự C C H O T R Ẻ 5 - 6 T U Ổ I T Ạ I T R Ƣ Ờ N G M Ầ M N O N 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Mục đích chung của giáo dục mầm non là phát triển tất cả các khả năng của trẻ, hình thành cho trẻ những cơ sở ban đầu của nhân cách con ngƣời: "Cần phát triển một số giá trị, nét tính cách và phẩm chất cần thiết: Mạnh dạn, tự tin, tự lực, sáng tạo, linh hoạt, tự giác…” tạo điều kiện cho trẻ tham gia vào đời sống. Trong cuộc sống, khả năng tự lực là một phẩm chất nhân cách vô cùng quan trọng của con ngƣời. Nhờ vào khả năng tự lực mà con ngƣời có khả năng tự hoạt động, tự cố gắng tham gia và hoàn thành công việc trên cơ sở năng lực của bản thân.
Tính tự lực của mỗi con ngƣời không phải sinh ra mà đã có, tất cả những tƣ chất tồn tại bên trong mỗi con ngƣời đều dựa trên sự cố gắng, nỗ lực và sự giáo dục cũng nhƣ sự hƣớng dẫn của ngƣời lớn. Tính tự lực đƣợc mỗi tác giả nghiên cứu đều dựa trên những góc độ khác nhau và dƣới những cái nhìn khác nhau. Với tác phẩm “Sức thẩm thấu của tâm hồn”, Montessori đƣa ra quan điểm: “Việc trẻ muốn được độc lập chính là bước tiến cơ bản mà chúng ta gọi là “phát triển tự nhiên”. Nếu chúng ta quan tâm đúng mức tới sự phát triển tự nhiên của trẻ, trẻ sẽ dần dần có được sự độc lập.
Điều này không chỉ đúng với phương diện tâm lý mà còn phù hợp trên phương diện thể chất” [32]. Cuốn sách đƣợc tiến sĩ Maria Montessori viết ra dựa trên kết quả quan sát tỉ mỉ và đánh giá chuyên sâu những hiện tƣợng giáo dục có ý nghĩa quyết định xuất hiện trong cuộc sống của trẻ từ 0 - 6 tuổi. Trong đó khẳng định: Trẻ có 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khả năng tự học hay nói cách khác trẻ có khả năng tự thẩm thấu bằng tâm hồn qua sự tự lực của bản thân với sự tác động đúng mức của ngƣời lớn. Đơmitriev, TTL đƣợc coi nhƣ một nét đặc trƣng của Nhân cách.
Theo họ, tự lực chỉ thể hiện một cách thực sự trên cơ sở đã có hiểu biết những kỹ năng nhất định và biết vận dụng chúng vào những tình huống mới. Tính tự lực đƣợc xuất hiện khi trẻ đƣợc tham gia trực tiếp vào các hoạt động lao động. Hình thành những kỹ năng trong hoạt động hàng ngày. Chính vì vậy mà ngƣời lớn cần tạo điều kiện cho trẻ thực hiện những nhiệm vụ hàng ngày vừa sức của trẻ, tự cho trẻ đƣa ra nhiệm vụ mới cũng nhƣ cách thực hiện chúng [Trích theo 14].
Nhiều nhà giáo dục học đã quan tâm đến sự hình thành tính tự lực của lứa tuổi nhỏ, nhƣ: T.Liublinxkaiai, Acxarina… trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm tính tự lực của trẻ nhỏ, tác giả đã khẳng định qua hoạt động với đồ vật và vui chơi, tính tự lực sẽ dần hình thành một cách bền vững ở trẻ nhỏ. Petrova cũng đã khẳng định: Chơi chính là một hoạt động thực tiễn mang khả năng tự lập của trẻ nhỏ. Tham gia chơi thì trẻ đƣợc đứng ở vị trí chủ thể của hành động chơi, trẻ có thể đƣợc tự mình quyết định làm lấy những gì mà mình thích chứ không phải là những gì ngƣời khác ép buộc. Vì vậy, trong khi chơi xuất hiện ở trẻ sự tích cực tự nguyện.
Nhà giáo dục có thể dựa vào hoạt động vui chơi mà có kế hoạch giáo dục khả năng tự lực của trẻ theo định hƣớng mục tiêu có chủ đích [Trích theo 42]. Galina đã xem thực hành lao động cũng là yếu tố cơ bản hình thành những kỹ năng tự lực. Vì trong nghiên cứu những hành vi của trẻ trong quá trình lao động đã thấy sự phát triển ở mức độ cao khi kết quả lao động mang tính tự sáng tạo. Dần nó sẽ giúp trẻ trở nên tích cực hơn khi tham gia nhiệm vụ mới [Trích theo 21].
Vengher nghiên cứu khả năng tự lực trên cơ sở tác động của nhà giáo dục: Khả năng tự lực không phải tự nhiên mà có. Nó chỉ đƣợc tạo nên trong những điều kiện cần thiết cho việc hình thành khả năng tự lực dƣới sự hƣớng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dẫn của mọi ngƣời. Qua đó tác giả khẳng định vai trò của ngƣời lớn trong quá trình hình thành tính tự lực [Trích theo 14]. Kaplan đã đƣa ra quan điểm tính tự lực chính là một nét tính cách của nhân cách con ngƣời.
Muốn hình thành nó phải giáo dục cho trẻ nhỏ những suy nghĩ và hành động độc lập, không đƣợc ỷ lại, dựa dẫm vào ngƣời khác [Trích theo 21]. Nhƣ vậy, theo các tác giả, quan điểm về giáo dục tính tự lực là một phẩm chất rất quan trọng trong hình thành nhân cách của trẻ. Sự hình thành tính tự lực phụ thuộc rất nhiều vào giáo dục qua các hoạt động cho trẻ tự thẩm thấu bằng cảm nhận của chính mình, sự tiếp xúc với thế giới xung quanh, tham gia các hoạt động vui chơi, lao động, tự làm những công việc vừa sức cũng nhƣ sự giúp đỡ hợp lý của ngƣời lớn. Qua đó trẻ sẽ dần hình thành tính tự lực cho trẻ một cách tự nhiên.
Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, nhất là trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, để đáp ứng với những biến đổi không ngừng của xã hội, vấn đề khả năng tự lực của trẻ em lứa tuổi mầm non đã đƣợc quan tâm nhiều. Từ năm 1999 đến nay, nhiều công trình nghiên cứu của các thạc sĩ, tiến sĩ liên quan tới khả năng tự lực của trẻ đã ra đời. Các luận án tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề này nhƣ: Luận án của Nguyễn Hồng Thuận (2002) đề cập một số biện pháp tác động của gia đình nhằm phát triển tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi [36]; tác giả Nguyễn Thanh Huyền (2004) đã nghiên cứu và đề xuất các biện pháp giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt [23]; tác giả Đào Thị Chi Hà (2018) đề cập về quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trƣờng mầm non tƣ thục [16]. Đã có nhiều luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục đã đề cập về các vấn đề liên quan đến tính tự lập của trẻ và quản lý hoạt động giáo dục 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính tự lập của trẻ vớí các đề tài nhƣ: “Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 24-36 tháng tuổi trong hoạt động tự phục vụ” của Mai ngọc Liên (1999) [27]; “Kỹ năng sống của trẻ lớp mẫu giáo lớn trường mầm non thực hành thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Mai Văn Lâm (2010) [26]; đề tài “Thực trạng tính tự lực của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động vui chơi ở một số trường mầm non tại TP Hồ Chí Minh” của tác giả Phùng Duy Hoàng Yến (2012) [42]; đề tài: “Tính tự lực của trẻ 5 tuổi tại trường mầm non Bé Ngoan phường Đa Cao, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Thị Thu Dung (2012) [14]; đề tài “Biện pháp giáo dục tính tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non” của tác giả Ngô Thị Bích Hồng (2013) [21]; đề tài: “Giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé ở trường mầm non Thành phố Thái Nguyên” của tác giả Đỗ Thị Bắc (2015) [3]; tác giả Nguyễn Đặng Hải Sâm (2015) (Đại học Giáo dục – ĐHQGHN) đã nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động giáo dục trẻ của Hiệu trƣởng trƣờng Mầm non Lục Ngạn, Bắc Giang [34]; đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non công lập, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội” của Nguyễn Thị Hƣơng Lan (2016) [25]; “Quản lý hoạt động giáo dục trẻ tại các trường mầm non công lập tại Quận Hà Đông, Hà Nội” của Nguyễn Thị Thu An (2016) [1]; tác giả Nguyễn Thị Thùy Trang (2009) đã nghiên cứu với đề tài “Phát huy tính tích cực tự lực của học sinh trong dạy học các chủ đề vật lý tự chọn thông qua hoạt động nhóm” [37].
Ngoài ra, còn có các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học nhƣ: “Giáo dục kỹ năng sống dựa vào trải nghiệm” của Nguyễn Thanh Bình (2007) [4]; “Giáo dục kĩ năng sống: quan điểm thực tiễn và tầm nhìn chiến lược” của Trần Anh Tuấn (2010) [38]; “Tìm hiểu thực trạng biểu hiện tính tự lập ở trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non hiện nay” của Nguyễn Thị Nhung (2016) [31]; “Sử 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dụng chế độ sinh hoạt hàng ngày làm phương tiện giáo dục cho trẻ ở trường mầm non” của Lê Thị Huyên (2019) [22]. Tuy nhiên, tất cả những công trình nghiên cứu trên của các tác giả mới đi sâu vào nghiên cứu tính tự lực, tính độc lập của trẻ em 5-6 tuổi, còn nhiều vấn đề liên quan đến GDKNTL cho trẻ mầm non chƣa đƣợc các tác giả đề cập tới, nhất là vấn đề làm thế nào để quản lý có hiệu quả hoạt động GDKTL cho trẻ mầm non nói chung, trẻ 5- 6 tuổi nói riêng. Cùng với các trƣờng mầm non của thành phố Bắc Ninh, Trƣờng Mầm non Phong Khê thuộc thành phố Bắc Ninh đang triển khai hoạt động GDKNTL cho trẻ 5- 6 tuổi nhƣng vẫn còn nhiều hạn chế bất cập, hoạt động giáo dục tính tự lực cho trẻ còn nhiều hạn chế, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu.