Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG, CHỐNG TAI NẠN, THƯƠNG TÍCH CHO HỌC SINH TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về phòng, chống tai nạn thương tích và hoạt động giáo dục phòng, chống tai nạn, thương tích cho học sinh trong nhà trường Phòng, chống tai nạn thương tích cho học sinh là một vấn đề cơ bản trong các trường THCS cũng như ngoài xã hội nhằm mục đích giảm thiểu tai nạn thương tích , mang lại hạnh phúc cho các em và gia đình. Vì vậy, ở các góc độ khoa học khác nhau: Xã hội học, tâm lý học, giáo dục học.
đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề này. Có thể kể ra một số nghiên cứu sau: Theo tổ chức y tế thế giới WHO, tai nạn, thương tích trẻ em là vấn đề mang tính toàn cầu. Mỗi năm, trên thế giới có khoảng 465.302 trẻ em 0-15 tuổi bị tử vong do tai nạn thương tích, tương đương khoảng 1.275 trẻ em/ngày bị tử vong do tai nạn thương tích. Ngoài ra, hàng chục triệu trẻ em khác bị chấn thương phải điều trị tại bệnh viện và thường để lại hậu quả lâu dài về sức khỏe, tâm lý, thậm chí là khuyết tật suốt đời.
Phần lớn các trường hợp tử vong xảy ra tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Tại Việt Nam, trong 5 năm qua, tình hình trẻ em mắc và tử vong do tai nạn thương tích đều giảm. Tỉ lệ tử vong do tai nạn, thương tích tại Việt Nam tương đương các nước thu nhập trung bình và trong khu vực, nhưng vẫn cao gấp 3 lần so với các nước thu nhập cao. Nguyên nhân tử vong hàng đầu là do đuối nước và tai nạn giao thông.
- Điều tra liên trường về tai nạn thương tích tại Việt Nam – VMIS) do trường Đại học Y tế công cộng và các đối tác thuộc Mạng lưới Nghiên cứu y tế công cộng thực hiện vào năm 2001. 6 Điều tra VMIS cho thấy tỷ lệ tử vong và không tử vong do tai nạn, thương tích cao hơn so với các bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm. Trong đó, tai nạn giao thông đường bộ và đuối nước được xác định là các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho dân số Việt Nam. Trong thời gian đầu, tai nạn thương tích được ghi nhận là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 18 tuổi.
Chính phủ Việt Nam nhận thức được ảnh hưởng và chi phí to lớn do tai nạn thương tích gây ra cho cộng đồng và đã phê duyệt Chính sách Quốc gia về phòng, chống tai nạn thương tích giai đoạn 2002-2010. Trong những năm qua, một số chương trình phòng, chống tai nạn thương tích bước đầu đã được cam kết thực hiện như Dự án phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em của Quỹ nhi đồng Liên hợp; Dự án của Tổ chức y tế thế giới về dịch vụ cấp cứu y tế do tổ chức Counterpart thực hiện; Dự án cung cấp mũ bảo hiểm cho trẻ em của Quỹ Thương vong châu Á; Chương trình nâng cao năng lực và dự án An toàn Đà Nẵng của Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Phòng chống chấn thương/ Trường Đại học Y tế công cộng và Tổ chức liên minh vì sự an toàn trẻ em Hoa Kỳ và một số dự án khác của các tổ chức phi chính phủ. Mặc dù các giải pháp lớn đã được chính phủ đưa ra, các quy định và chương trình về phòng, chống tai nạn thương tích đã được xây dựng và triển khai, nhưng tỷ lệ mắc và tử vong do tai nạn, thương tích vẫn cao.482 người tử vong do tai nạn thương tích, tương đương với tỷ suất tử vong là 46,6/100,000 người.000 người tử vong do tai nạn giao thông và khoảng 4.000 trẻ em bị đuối nước. Nghiên cứu đánh giá về thực hiện Chính sách quốc gia về phòng, chống tai nạn thương tích đã chỉ ra rằng việc thiếu hệ thống số liệu đầy đủ để mô tả vấn đề tai nạn, thương tích , xác định cơ chế các loại tai nạn, thương tích đặc trưng, xác định các mục tiêu can thiệp và theo dõi quá trình của phòng, chống tai nạn thương tíchchính là những rào cản không nhỏ cho việc đạt được hiệu quả tiềm năng của Chính sách Quốc gia ở Việt Nam.
7 Để thực hiện mục tiêu phòng, chống tai nạn thương tích ở Việt Nam trong thập kỷ tới, trường Đại học Y tế công cộng và Mạng lưới nghiên cứu y tế công cộng đề xuất triển khai điều tra quốc gia tai nạn, thương tích ở Việt Nam năm 2010 (VNIS). Tiếp theo VMIS 2001, VNIS 2010 sẽ là công cụ hữu dụng chophòng, chống tai nạn thương tích ở Việt Nam. Với thiết kế quy mô lớn và chất lượng mang tầm quốc gia, điều tra sẽ cung cấp một bức tranh tổng thể đúng đắn về thực trạng tai nạn, thương tích ở Việt Nam và là số liệu thay thế cho việc thiết lập và lập kế hoạch ưu tiên phòng, chống tai nạn thương tíchtrong những năm tiếp theo ở Việt Nam. VNIS 2010 cũng hữu ích cho việc đào tạo, củng cố kỹ năng điều tra và phân tích cho mạng lưới nghiên cứu y tế công cộng cũng như các sinh viên và nghiên cứu viên độc lập ở Việt Nam[10] - Các nghiên cứu của Bộ y tế (2008) về mối quan hệ giữa điều kiện vật chất, địa hình."Đặc điểm địa hình nước ta 3/4 diện tích là đồi núi, có nhiều ao hồ, sông suối.
Là nơi trẻ thường tập trung chơi đùa, cùng với tình trạng bị ảnh hưởng thường xuyên bão lũ, khiến cho tỷ lệ tử vong do đuối nước ở trẻ em Việt Nam luôn ở mức cao. Ngoài ra, khu vực nông thôn chủ yếu là ở các vùng trồng lúa, sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp, trẻ em thường sớm phải làm nhiều việc gia đình cũng như tham gia giúp bố mẹ trong công việc đồng áng. Đây cũng chính là những yếu tác động tố làm tăng các nguy cơ tai nạn thương tích đối với các em, nhất là lứa tuổi THCS. vàbước đầu kết luận: Tai nạn thương tích cũng xảy ra nhiều hơn ở vùng thành thị, ít hơn so với vùng nông thôn.[4] - UBND thành phố Đà Nẵng vừa ban hành Kế hoạch số 169/KH-UBND ngày 30-9-2021 thực hiện Chương trình phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em giai đoạn 2021-2030 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, với mục tiêu kiểm soát và giảm thiểu tai nạn, thương tích trẻ em trên tất cả các loại hình tai nạn, thương tích, nhất là tai nạn đuối nước, tai nạn giao thông nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của trẻ em, hạnh phúc của gia đình và sự phát triển bền vững của thành phố.
8 Cụ thể, giai đoạn 2021-2030, thành phố phấn đấu giảm tỷ suất trẻ em bị tai nạn, thương tích xuống còn 500/100.000 trẻ em vào năm 2025 và 400/100.000 vào năm 2030; giảm tỷ suất trẻ em bị tử vong do tai nạn thương tích xuống dưới 12/100.000 trẻ em vào năm 2025 và 10/100.000 vào năm 2030; hằng năm giảm 15% số trẻ em tử vong và 10% số trẻ em bị thương do tai nạn giao thông đường bộ. Giảm 25% số trẻ em bị tử vong do đuối nước năm 2025 và 40% vào năm 2030[25]. Các công trình nghiên cứu về giáo dục phòng, chống tai nạn thương tích và quản lý giáo dục phòng, chống tai nạn thương tích cho học sinh trong nhà trường Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục phòng, chống tai nạn thương tích cho học sinh và quản lý giáo dục phòng, chống tai nạn thương tích cho học sinh trong nhà trường và ngoài xã hội. Sản phẩm của các nghiên cứu được thể hiện trong các bài báo khoa học, các luận văn thạc sĩ thuộc các chuyên ngành khác nhau về vấn đề này.
Có thể nêu lên một số nghiên cứu sau: Nguyễn Văn Minh (2014), “Liên kết nguồn lực nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích cho học sinh tại địa bàn phường Ngọc Sơn, Kiến An, thành 9 phố Hà Nội” [18]; Đỗ Thị Miền (2014), “Truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm phòng, chống tai nạn thương tích cho học sinh trên địa bàn xã Ninh Sơ, Thường Tín, Hà Nội”[17]; Bùi Lê Vĩ Chinh( 2020)Luận án tiến sĩ y tế công cộng, trường Đại học Y Dược Hải Phòng“Thực trạng tai nạn thương tích trẻ em dưới 15 tuổi và một số can thiệp dự phòng tai nạn đuối nước tại hai huyện tỉnh Bình Định”[9]. Hoàng Thương (2012), “Mô hình và một số yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích ở học sinh tại bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng”[23], Luận văn thạc sĩ Y học, trường Đại học Y dược, đại học Thái Nguyên., Nguyễn Thị Quỳnh Hoa (2006), “Nhận thức của cha mẹ trong việc phòng ngừa tai nạn thương tích cho học sinh ở Hà Nội hiện nay” [11]… Luận văn XHH, Đại học Quốc gia Hà Nội. Các công trình nghiên cứu ở cấp độ luận văn, luận án về phòng, chống tai nạn thương tích và quản lý giáo dục phòng, chống tai nạn thương tích đều có một điểm chung: Trên cơ sở xác lập khung lý luận về giáo dục phòng, chống tai nạn thương tích và quản lý giáo dục phòng, chống tai nạn thương tích cho học sinh trong nhà trường, thiết kế các phương pháp nghiên cứu đánh giá thực tiễn tai nạn thương tích , giáo dục phòng, chống tai nạn thương tích và quản lý giáo dục phòng, chống tai nạn thương tích cho học sinh để từ đó đề xuất các biện pháp giáo dục phòng, chống tai nạn thương tích và quản lý giáo dục phòng, chống tai nạn thương tích cho học sinh trong nhà trường. Ví dụ: Trương Thị Ngọc Loan (2015) [15], với nghiên cứu “Quản lý hoạt động phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ em trong các trường mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội” đã công bố kết quả nghiên cứu về hoạt động phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ em và quản lý hoạt động phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ em trong các trường mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Kết quả nghiên cứu khẳng định: phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em về nội dung, hình thức, các nguồn lực phục vụ cho hoạt động phòng, chống tai nạn thương tích được đánh giá ở mức độ khá 10 tốt. Nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ mầm non. Đồng thời luận văn đã đề xuất các biện pháp nhằm phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ em trong các trường mầm non quận Cầu Giấy. Các biện pháp mang tính khả thi cao.