phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về HĐGDNGLL ở trường THCS. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý HĐGDNGLL theo hướng tăng cường HĐTNST ở trường THCS Ngọc Hải – Đồ Sơn – Hải Phòng Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý HĐGDNGLL ở trường THCS Ngọc Hải – Đồ Sơn – Hải Phòng theo hướng tăng cường hoạt độngTNST. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP THEO HƢỚNG TĂNG CƢỜNG HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.
Trên thế giới Nhiều nhà giáo dục ở trên thế giới như Anh, Mỹ, Nhật Bản. đã khẳng định rằng các HĐGDNGLL nhằm giúp HS gắn kiến thức với thực tiễn. Họ xem các hoạt động này là một phần vô cùng quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Họ đã có những công trình nghiên cứu và khẳng định về vấn đề này.Rabole ( 1494 – 1553 ) nhà tư tưởng nhà giáo dục thời kỳ Phục Hưng đã từng nhấn mạnh : “Việc giáo dục phải bao hàm các nội dung trí dục, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ .ngoài việc học ở nhà còn có các buổi tham quan xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn,các nghị sĩ, đặc biệt mỗi tháng một lần thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày”[28, tr.
Nhà sư phạm nổi tiếng Makarenco của nước Nga khẳng định : “ Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn đề giảng dạy, lại càng không thể để cho quá trình giáo dục chỉ thực hiện trên lớp học mà đáng ra phải trên từng mét vuông đất của đất nước ta. nghĩa là trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trong lớp” [28, tr. Albert Einstein đã khẳng định rằng: “ Chỉ có trải nghiệm mới là hiểu biết, còn tất cả những thứ khác chỉ là thông tin”. Đây cũng chính là phương thức giáo dục hiện đại mà V.
Lênin (1870 - 1924) coi là một trong những nguyên tắc của giáo dục XHCN. Trong bài phát biểu "Nhiệm vụ của Đoàn thanh niên", Lê Nin chỉ rõ: "Chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết lao động và hoạt động xã hội cùng với công nhân và nông dân" [31, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Cơrupxkaia (1869 - 1939) đã nhấn mạnh ý nghĩa của hoạt động lao động, hoạt động chính trị xã hội. Bà đánh giá cao vai trò hoạt động của Đoàn thanh niên, của Đội thiếu niên, qua các hoạt động ngoài trường, ngoài lớp. Bà cho rằng: "Qua hoạt động thực tiễn thế hệ trẻ được tự giáo dục, qua đó mà hình thành và phát triển nhân cách của người lao động mai sau" Theo John Dewey (1859 – 1952), người đặt nền móng cho triết lý giáo dục Mỹ thì “trường học không đơn thuần là nơi người lớn dạy cho trẻ con bài học kiến thức và bài học luân lý.
Trường học phải là một cộng đồng dân chủ trong đó mọi hoạt động được tập trung nhằm tạo ra hiệu quả cao nhất trong việc chia sẻ cho người học di sản tri thức nhân loại và làm cho họ có thể sử dụng tài năng của mình vào mục đích xã hội. Và trong tác phẩm Trải nghiệm và Giáo dục ôngđã chỉ ra hạn chế của giáo dục nhà trường và đưa ra quan điểm về vai trò của trải nghiệm trong giáo dục. Với triết lí giáo dục đề cao vai trò của trải nghiệm, Dewey cũng chỉ ra rằng, những trảinghiệm có ý nghĩa giáo dục giúp nâng cao hiệu quả giáo dục bằng cách kết nối người học và những kiến thức được học với thực tiễn. Kolb (1984) cũng đưa ra một lí thuyết về học từ trải nghiệm theo đó, học là một quá trình trong đó kiến thức của người học được tạo ra qua việc chuyển hóa kinh nghiệm; nghĩa là, bản chất của hoạt động học là quá trình trải nghiệm.
Trong nước Ở Việt Nam tư tưởng giáo dục toàn diện của Hồ Chí Minh và của Đảng ta là kim chỉ nam cho việc phát triển giáo dục. Từ thời kì đầu của nền giáo dục nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ phương pháp để đào tạo nên những người tài đức là: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội!”. Bác đã từng nói: "Giáo dục phải theo hoàn cảnh và điều kiện" và "Một chương trình nhỏ mà được thực hành hẳn hoi còn hơn một trăm chương trình lớn mà không làm được". Trong bài báo "1- 6" ký tên C.B đăng trên báo Nhân dân số ra ngày 01- 6 -1955, Bác đã đề ra nội dung giáo dục toàn diện đối với HS bao gồm: thể dục, trí dục, mỹ dục, đức dục.
Bác đã đưa ra quan điểm giáo dục thiếu nhi đó là: "Trong quá trình giáo dục thiếu nhi phải giữ toàn vẹn cái tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng. Và trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học". Bác yêu 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cầu: "Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn"[36]. Từ năm học 1983 - 1984 Bộ Giáo dục đã hướng dẫn các trường phổ thông cần chú ý tăng cường các HĐGDNGLL cân đối và song song với kế hoạch dạy học nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ năm học mà Bộ Giáo dụcđề ra.
Đến năm học 2013 - 2014 Bộ Giáo dục đã hướng dẫn các trường phổ thông thực hiện các HĐTNST trong hoạt động dạy học và giáo dục. Có nhiều công trình trong nước nghiên cứucủa các tác giảPhạm Lăng, Nguyễn Văn Thiềm, Đinh Xuân Huy.đã làm nổi bật tầm quan trọng của các HĐGDNGLL và chỉ ra nhiều biện pháp cho BGHquản lý tốt các hoạt động này nhằm làm nâng cao chất lượng giáo dục. Nói về sự cần thiết phải tổ chức các hoạt động giáo dục trải nghiệm, tác giả Nguyễn Thị Thu Hoài đã khẳng định: “ giáo dục là một hoạt động của đời sống, là bản thân quá trình sống của trẻ em chứ không phải là một sự chuẩn bị cho một cuộc sống tương lai mơ hồ nào đấy” [3, tr. Mục tiêu của giáo dục phổ thông đã được quy định tại điều 27 - Luật Giáo dục 2005 như sau: "Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"[24].
Trong đề án đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đã đề cập: HĐTNST nhằm góp phần hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất và năng lực chung, nhất là trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên; tính tự lập, tự tin, tự chủ; các năng lực sáng tạo, hợp tác, giao tiếp, tự quản lí bản thân. HĐTNST sẽ là môi trường để giúp HS trải nghiệm tất cả những gì được học từ các môn học, chủ đề hay lĩnh vực, giúp vận dụng kiến thức có được từ nhà trường vào thực tiễn cuộc sống và cũng thông qua đó, những năng lực gắn với cuộc sống được hình thành. Nói cách khác là đào tạo một lớp người mới tinh thông về nghề nghiệp, có khả năng thích ứng cao với những biến động của cuộc sống[2]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiện tại đã có khá nhiều nghiên cứu trong nước đề cập đến HĐTNST nói chung và HĐTNST trong nhà trường nói riêng như: Hoạt độngTNST - kinh nghiệm quốc tế và vấn đề của Việt Nam của tác giả Đỗ Ngọc Thống [3, tr.
Hoạt độngTNST – Góc nhìn từ lý thuyết “học từ trải nghiệm” của tác giả Đinh Thị Kim Thoa[3, tr. Một số vấn đề về hoạt độngTNST trong chương trình giáo dục phổ thông mới – tác giả Lê Huy Hoàng [3; tr. Tổ chức hoạt động giáo dụcTNST- giải pháp phát huy năng lực người học – tác giả Nguyễn Thị Thu Hoài3, tr. Trong bài nghiên cứu có nhan đề Mục tiêu năng lực, nội dung chương trình, cách đánh giá trong hoạt độngTNST tác giả Đinh Thị Kim Thoa đã chỉ ra để phát triển chương trình HĐGDTNST cần phải xác định và xây dựng được khung năng lực, từ đó thiết kế nội dung để đạt được mục tiêu đặt ra26.
Ngoài ra còn có những nghiên cứu khác như: Quản lý các hoạt độngTNST tại các trường THCS thuộc quận Lê Chân thành phố Hải phòng của tác giả Bùi Tố Nhân 20. Như vậy, trong và ngoài nước đã có không ít các tác giả quan tâm nghiên cứu các khía cạnh của HĐGDNGLL và hoạt độngTNST. Về quản lý HĐGDNGLL theo hướng tăng cường hoạt độngTNST thì chưa được đề cập có hệ thống và cũng chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này ở trường THCS Ngọc Hải ( Đồ Sơn – Hải Phòng) 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1.
Khái niệm chung về quản lý 1. Khái niệm quản lý Trên thực tế có nhiều cách tiếp cận khái niệm “quản lý”. Có thể kể ra một số quan điểm như sau: Thông thường, quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh… theo lý thuyết hệ thống: “quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống”. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “ Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận động các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Hoạt động quản lý bắt đầu từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý… phải có người đứng đầu.