Luận văn Quản lý hoạt động tổ chuyên môn trường THCS quận Hai Bà Trưng

Dưới đây là các meta tags cho bài viết "Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường trung học cơ sở quận Hai Bà Trưng Hà

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

82
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý hoạt động tổ chuyên môn trường THCS

Quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trường trung học cơ sở (THCS) quận Hai Bà Trưng, Hà Nội là quá trình điều hành, giám sát và thúc đẩy hoạt động chuyên môn của giáo viên theo nhóm môn học. Hoạt động này đóng vai trò then chốt trong nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Theo Nghị quyết Đại hội Đảng khóa XI, đổi mới quản lý giáo dục là nhiệm vụ trọng tâm nhằm đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tại quận Hai Bà Trưng, tổ chuyên môn được hình thành dựa trên sự liên kết của giáo viên cùng chuyên ngành, hoạt động dưới sự lãnh đạo của tổ trưởng và sự chỉ đạo của hiệu trưởng. Mục tiêu chính là nâng cao năng lực chuyên môn, đổi mới phương pháp giảng dạy và đảm bảo chất lượng dạy học theo chuẩn quốc gia. Hệ thống quản lý này bao gồm các chủ thể: hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng, tổ phó và giáo viên, phối hợp chặt chẽ để triển khai nhiệm vụ chuyên môn. Hiệu quả quản lý phụ thuộc vào năng lực lãnh đạo, cơ chế phối hợp và điều kiện cơ sở vật chất hỗ trợ.

1.1. Vai trò của tổ chuyên môn trong quản lý giáo dục

Tổ chuyên môn là đơn vị tổ chức hoạt động chuyên môn trong trường THCS, nơi giáo viên cùng lĩnh vực môn học chia sẻ kinh nghiệm, cập nhật kiến thức và đổi mới phương pháp giảng dạy. Vai trò của tổ chuyên môn thể hiện qua ba khía cạnh chính: thứ nhất, là cầu nối giữa chương trình giáo dục quốc gia và thực tiễn giảng dạy tại trường; thứ hai, tạo môi trường hợp tác, học hỏi lẫn nhau giữa giáo viên; thứ ba, hỗ trợ giáo viên yếu kém thông qua hoạt động sinh hoạt tổ định kỳ. Theo tài liệu nghiên cứu của Trần Hồng Hạnh (2013), tổ chuyên môn quyết định 70% chất lượng dạy học tại trường THCS, bởi nó trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả giảng dạy và sự phát triển chuyên môn của giáo viên. Ngoài ra, tổ chuyên môn còn đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai các chương trình đổi mới giáo dục theo chỉ đạo của ngành giáo dục quận.

1.2. Khung pháp lý quản lý tổ chuyên môn

Hoạt động tổ chuyên môn tại quận Hai Bà Trưng tuân thủ khung pháp lý do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành. Các văn bản quan trọng bao gồm Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVI, Chỉ thị 35/CT-TU về nâng cao chất lượng nhà giáo, và Kế hoạch 79/KH-UB về bồi dưỡng đội ngũ giáo viên. Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Hai Bà Trưng đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ, như cuộc vận động “Mỗi thầy cô là tấm gương sáng”, nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức và chuyên môn. Ngoài ra, các trường THCS còn thực hiện phong trào thi đua “Dân chủ - Kỷ cương - Tình thương - Trách nhiệm” để thúc đẩy hoạt động tổ chuyên môn. Khung pháp lý này đảm bảo hoạt động tổ chuyên môn diễn ra có hệ thống, đúng quy định và phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

II. Thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại quận Hai Bà Trưng

Quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trường THCS quận Hai Bà Trưng đang đối mặt với nhiều thách thức. Theo báo cáo năm 2013 của Trần Hồng Hạnh, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn chuyên môn đạt 100%, nhưng tỷ lệ giáo viên trên chuẩn chỉ đạt 70%, cho thấy khoảng cách về năng lực chuyên môn giữa các giáo viên. Đội ngũ giáo viên tương đối ổn định với tỷ lệ 2.26 giáo viên văn hóa/lớp (vượt quy định 0.16), nhưng sự thiếu đồng đều về trình độ vẫn là vấn đề nan giải. Bên cạnh đó, cơ chế phối hợp giữa các tổ chuyên môn chưa thực sự hiệu quả, dẫn đến tình trạng “cát cứ” trong hoạt động chuyên môn. Một khảo sát nhỏ tại quận cho thấy chỉ 40% giáo viên tham gia sinh hoạt tổ chuyên môn đều đặn, nguyên nhân chủ yếu do thiếu động lực và thời gian. Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hoạt động chuyên môn còn hạn chế, khiến quá trình theo dõi, đánh giá trở nên kém linh hoạt. Những bất cập này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục toàn diện của quận.

2.1. Điểm mạnh trong quản lý tổ chuyên môn

Mặc dù gặp nhiều khó khăn, quản lý tổ chuyên môn tại quận Hai Bà Trưng cũng có những điểm mạnh đáng ghi nhận. Thứ nhất, đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn khá cao, với 100% đạt chuẩn và hơn 70% đạt trên chuẩn, đáp ứng yêu cầu cơ bản của chương trình giáo dục. Thứ hai, quận đã triển khai nhiều cuộc vận động và phong trào thi đua, như “Mỗi thầy cô là tấm gương sáng”, góp phần nâng cao ý thức tự học và đổi mới phương pháp giảng dạy. Thứ ba, sự quan tâm của lãnh đạo quận và Phòng Giáo dục trong việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, nâng cao năng lực quản lý cho tổ trưởng chuyên môn. Những yếu tố này tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động tổ chuyên môn, mặc dù vẫn cần cải thiện hơn nữa về cơ chế phối hợp và ứng dụng công nghệ.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân tồn tại

Hoạt động tổ chuyên môn tại quận Hai Bà Trưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế do ba nguyên nhân chính. Thứ nhất, sự thiếu thống nhất trong triển khai kế hoạch chuyên môn giữa các trường, dẫn đến chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa cơ sở. Thứ hai, năng lực quản lý của tổ trưởng chuyên môn chưa đồng đều, một số tổ trưởng còn lúng túng trong việc xây dựng kế hoạch hoạt động hoặc điều hành sinh hoạt tổ. Thứ ba, thiếu sự gắn kết giữa lý thuyết và thực tiễn, khiến hoạt động chuyên môn đôi khi trở nên hình thức. Theo khảo sát, 60% giáo viên cho biết chưa nhận được sự hỗ trợ kịp thời từ tổ trưởng trong quá trình giảng dạy. Những hạn chế này xuất phát từ cơ chế quản lý chưa linh hoạt, thiếu sự giám sát chặt chẽ từ phía lãnh đạo nhà trường và Phòng Giáo dục.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tổ chuyên môn

Để nâng cao hiệu quả quản lý tổ chuyên môn tại các trường THCS quận Hai Bà Trưng, cần triển khai đồng bộ ba nhóm giải pháp. Nhóm thứ nhất tập trung vào nâng cao năng lực quản lý cho các chủ thể quản lý, đặc biệt là tổ trưởng chuyên môn thông qua các khóa đào tạo ngắn hạn về lãnh đạo chuyên môn, lập kế hoạch hoạt động và ứng dụng công nghệ trong quản lý. Nhóm thứ hai cải thiện cơ chế phối hợp giữa các tổ chuyên môn bằng cách xây dựng hệ thống chia sẻ tài liệu, kinh nghiệm giảng dạy và tổ chức hội thảo định kỳ. Nhóm thứ ba tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, như sử dụng phần mềm theo dõi tiến độ giảng dạy, đánh giá giáo viên và quản lý hồ sơ chuyên môn. Ngoài ra, cần xây dựng tiêu chí đánh giá hoạt động tổ chuyên môn dựa trên kết quả học tập của học sinh và sự tiến bộ của giáo viên. Các giải pháp này phải được triển khai song song với việc tăng cường giám sát, đánh giá định kỳ để đảm bảo tính khả thi.

3.1. Nâng cao năng lực quản lý cho tổ trưởng

Tổ trưởng chuyên môn đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành hoạt động tổ, nhưng năng lực lãnh đạo của họ tại quận Hai Bà Trưng còn nhiều hạn chế. Giải pháp cấp thiết là tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về quản lý chuyên môn, tập trung vào kỹ năng lập kế hoạch, tổ chức sinh hoạt tổ và đánh giá giáo viên. Theo mô hình quản lý tiên tiến, tổ trưởng cần được trang bị kiến thức về tâm lý giáo dục, phương pháp giảng dạy tích cực và kỹ năng quản lý xung đột. Ngoài ra, cần xây dựng hệ thống mentor cho tổ trưởng mới, nơi họ được hỗ trợ bởi những tổ trưởng giàu kinh nghiệm. Việc đánh giá tổ trưởng cũng cần minh bạch, dựa trên kết quả hoạt động của tổ và sự hài lòng của giáo viên. Những biện pháp này sẽ giúp nâng cao chất lượng lãnh đạo, từ đó thúc đẩy hoạt động chuyên môn hiệu quả hơn.

3.2. Ứng dụng công nghệ trong quản lý tổ chuyên môn

Công nghệ thông tin là công cụ đắc lực giúp quản lý tổ chuyên môn trở nên khoa học và minh bạch. Tại quận Hai Bà Trưng, việc ứng dụng công nghệ còn hạn chế, khiến quá trình theo dõi, đánh giá trở nên thủ công và thiếu chính xác. Giải pháp khả thi là triển khai phần mềm quản lý chuyên môn, cho phép theo dõi tiến độ giảng dạy, lưu trữ hồ sơ giáo viên và đánh giá kết quả học tập của học sinh theo thời gian thực. Phần mềm này cũng hỗ trợ tổ chức hội nghị trực tuyến, chia sẻ tài liệu và thống kê dữ liệu chuyên môn. Ngoài ra, các trường cần xây dựng kho dữ liệu chung về giáo án, bài giảng và kinh nghiệm giảng dạy để giáo viên có thể tham khảo. Việc ứng dụng công nghệ không chỉ tiết kiệm thời gian mà còn tăng cường sự minh bạch và trách nhiệm trong quản lý.

IV. Kết luận và khuyến nghị cải thiện quản lý

Quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trường THCS quận Hai Bà Trưng đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục. Nghiên cứu của Trần Hồng Hạnh (2013) cho thấy hoạt động tổ chuyên môn đóng vai trò then chốt trong nâng cao chất lượng giáo dục, nhưng hiệu quả quản lý chưa tương xứng do thiếu đồng bộ trong triển khai, năng lực lãnh đạo chưa đồng đều và hạn chế trong ứng dụng công nghệ. Để cải thiện tình hình, cần tập trung vào ba khía cạnh: thứ nhất, nâng cao năng lực quản lý cho tổ trưởng chuyên môn thông qua đào tạo và giám sát chặt chẽ; thứ hai, cải thiện cơ chế phối hợp giữa các tổ chuyên môn bằng cách xây dựng hệ thống chia sẻ tài liệu và kinh nghiệm; thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý để tăng cường minh bạch và hiệu quả. Ngoài ra, lãnh đạo quận và Phòng Giáo dục cần quan tâm hơn đến công tác đánh giá định kỳ hoạt động tổ chuyên môn, từ đó kịp thời điều chỉnh các giải pháp phù hợp. Những nỗ lực này sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện tại quận Hai Bà Trưng.

4.1. Tầm quan trọng của quản lý tổ chuyên môn

Quản lý tổ chuyên môn không chỉ là nhiệm vụ hành chính mà còn là chiến lược then chốt trong nâng cao chất lượng giáo dục. Tại quận Hai Bà Trưng, hoạt động tổ chuyên môn quyết định 70% chất lượng giảng dạy, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực chuyên môn của giáo viên và kết quả học tập của học sinh. Một tổ chuyên môn hoạt động hiệu quả sẽ thúc đẩy sự hợp tác giữa giáo viên, đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Ngược lại, nếu quản lý lỏng lẻo, tổ chuyên môn sẽ trở thành hình thức, không mang lại giá trị thực tế. Do đó, quản lý tổ chuyên môn cần được coi là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển giáo dục của quận. Những cải tiến trong quản lý sẽ góp phần hiện thực hóa mục tiêu “giáo dục chuẩn hóa, hiện đại hóa” theo Nghị quyết của Đảng.

4.2. Hướng phát triển trong tương lai

Trong giai đoạn tới, quản lý tổ chuyên môn tại quận Hai Bà Trưng cần hướng tới ba mục tiêu chính. Thứ nhất, xây dựng hệ thống quản lý chuyên nghiệp, dựa trên dữ liệu và công nghệ, nhằm theo dõi tiến độ giảng dạy và đánh giá giáo viên một cách khách quan. Thứ hai, tăng cường hợp tác giữa các trường trong quận thông qua việc chia sẻ tài liệu, kinh nghiệm và tổ chức hội thảo chuyên đề. Thứ ba, đẩy mạnh bồi dưỡng năng lực quản lý cho tổ trưởng, đặc biệt là những kỹ năng lãnh đạo, quản lý xung đột và đổi mới phương pháp giảng dạy. Ngoài ra, cần xây dựng tiêu chí đánh giá hoạt động tổ chuyên môn dựa trên kết quả học tập của học sinh và sự hài lòng của giáo viên. Những hướng phát triển này sẽ giúp quản lý tổ chuyên môn trở nên hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của quận.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/05/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường trung học cơ sở quận hai bà trưng hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 c¬ së lý luËn vÒ qu¶n lý ho¹t ®éng tæ chuyªn m«n trêng trung häc c¬ së 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý trường trung học cơ sở * Khái niệm quản lý: Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 1994 thì: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định. Là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”.

Theo tác giả Hà Sĩ Hồ: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”. Tác giả Nguyễn Bá Sơn thì cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động”. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”.

Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”. Từ các quan niệm trên, ta thấy mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về quản lý, nhưng đều có những dấu hiệu chủ yếu đó là: Quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội. Quản lý là những tác động có tính hướng đích, những tác động phối hợp nỗ lực của cá nhân thực hiện được mục tiêu của tổ chức. 14 Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm trong quá trình hoạt động quản lý; do vậy có thể khái quát: quản lý nói chung là quản lý các tổ chức của con người và hành vi, hoạt động của con người trong các tổ chức đó.

Quản lý luôn tồn tại với tư cách là hệ thống. Hệ thống quản lý được tạo bởi nhiều thành tố. Các thành tố cơ bản thường được đề cập khi phân tích hệ thống quản lý là: Chủ thể quản lý: là trung tâm thực hiện những hoạt động khai thác, tổ chức và thực hiện nguồn lực của tổ chức; thực hiện những tác động hướng đích, có chủ định đến đối tượng quản lý. Chủ thể là cá nhân hoặc tập thể.

Đối tượng quản lý: là đối tượng chịu tác động và thay đổi dưới những tác động hướng đích, có chủ định đến đối tượng quản lý. Đối tượng quản lý là con người (cá nhân và tập thể) trong tổ chức và các yếu tố được sử dụng là nguồn lực của tổ chức (thông qua việc khai thác, tổ chức và thực hiện). Cơ chế quản lý: là phương thức vận động hợp quy luật của hệ thống quản lý, mà trước hết là sự tác động lẫn nhau một cách hợp quy luật trong quá trình quản lý. Theo nghĩa này, cơ chế quản lý bao hàm cả những yếu tố của công cụ như: phương tiện, giải pháp của chủ thể quản lý nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ, điều hòa phối hợp hoạt động của con người và các bộ phận trong tổ chức trong việc đạt đến các mục tiêu đã đề ra.

Cơ chế quản lý có vai trò quan trọng trong việc thiết lập phương thức hoạt động hợp với quy luật khách quan cho hoạt động quản lý; nó tác động trực tiếp đến xác lập và vận hành mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đến định hướng tổ chức thực hiện và điều chỉnh hoạt động trong tổ chức. Mục tiêu quản lý: mục đích quản lý được cụ thể hóa bằng các mục tiêu quản lý, mục tiêu quản lý được hiểu là trạng thái cần và có thể có của tổ chức trong những giai đoạn nhất định được xác định theo tình thế của tổ chức và mối quan hệ giữa tổ chức và môi trường. Trạng thái cần có là trạng thái mà tổ chức phải đạt được để có thể tồn tại và phát triển. Trạng thái có thể có là trạng thái mà tổ chức có thể đạt được hoặc không đạt được tùy thuộc vào khả năng và mức độ huy động các nguồn lực của tổ chức.

Từ các yếu tố trên có thể hiểu: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”. 15 Về thực chất, quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối cùng, phục vụ lợi ích của con người. Những khái quát chung về quản lý, tạo cơ sở lý luận để nghiên cứu nhận thức rõ hơn về quản lý giáo dục. * Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường: Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm đã được tích lũy trong quá trình phát triển của xã hội loài người.

Thế hệ đi trước truyền đạt cho thế hệ đi sau, thế hệ đi sau phải có trách nhiệm lĩnh hội, kế thừa, phát triển và bổ sung những kinh nghiệm đó. Giáo dục có một vị trí đặc biệt quan trọng, vừa là sản phẩm của xã hội đồng thời là nhân tố tích cực, động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Trong thời đại ngày nay, giáo dục đã trở thành nhân tố quyết định thúc đẩy sự phát triển xã hội vì chỉ có giáo dục mới đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội. Vì vậy giáo dục trở thành mục tiêu phát triển hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới.

Giáo dục là một quá trình, là một hoạt động của xã hội, vì thế có sự quản lý, đó là quản lý giáo dục. Quản lý giáo dục được hiểu một cách rất đa dạng tùy theo góc độ nghiên cứu, tiếp cận của các nhà khoa học. Theo nghĩa tổng quát: Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ yêu cầu phát triển xã hội. Theo Từ điển Tiếng Việt: Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường), nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.

Một số quan niệm về quản lý giáo dục: Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành tiến tới mục tiêu đào tạo theo nguyên lý giáo dục”. 16 Còn theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ. Đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”.

Mục đích của quản lý giáo dục trong nhà trường, là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp học sinh thông minh sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội. Những khái quát các quan niệm về quản lý, quản lý giáo dục trong nhà trường, tạo cơ sở lý luận để nghiên cứu và nhận thức rõ hơn về quản lý giáo dục trường THCS. * Quản lý trường trung học cơ sở: Quản lý trường học: Xét trên bình diện vi mô, quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường có thể xem là đồng nghĩa với quản lý nhà trường. Trường học là tổ chức giáo dục, là đơn vị cấu trúc cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân.

Do vậy, xét về bản chất trường học là tổ chức mang tính nhà nước – xã hội – sư phạm thể hiện bản chất giai cấp, bản chất xã hội và bản chất sư phạm. Vì thế có thể hiểu: “Quản lý trường học: Là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”. Mặt khác, quản lý trường học về bản chất là quản lý con người. Điều đó tạo ra cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ.

Trong nhà trường, giáo viên và học sinh vừa là đối tượng, vừa là chủ thể quản lý. Với tư cách là đối tượng quản lý, họ chịu tác động của chủ thể quản lý (hiệu trưởng). Với tư cách là chủ thể quản lý, họ là người tham gia chủ động, tích cực vào hoạt động quản lý chung và biến nhà 17 trường thành hệ tự quản lý. Cho nên, quản lý nhà trường không chỉ là trách nhiệm riêng của người hiệu trưởng, mà là trách nhiệm chung của tất cả các thành viên trong nhà trường.

Quản lý trường học, là một dạng lao động đặc biệt, mà nét đặc trưng của nó là tính tích cực sáng tạo, năng lực vận dụng những tri thức đã có để đạt mục đích đặt ra một cách có kết quả là sự cải biến hiện thực giáo dục.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ