Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực, cấu trúc của năng lực 1. Năng lực Chất lượng đầu ra của giáo dục đang được chú trọng bởi lẽ vậy mục tiêu giáo dục là đào tạo ra nguồn nhân lực “chất lượng cao” có khả năng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu mới của xã hội và thị trường lao động. Nguồn nhân lực đầu ra được kỳ vọng là nhân lực có thể thích ứng và bắt kịp với xu thế của thời đại công nghiệp hóa – thời đại công nghiệp 4.
Hành động cốt lõi để thực hiện quá trình toàn cầu hóa đó chính là năng lực GQVĐ. Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục, chính vì lẽ đó làm cho năng lực nâng cao tầm quan trọng của mình. Nó là khái niệm nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà khoa học thậm chí nhiều tổ chức trong và ngoài nước, từ đó nhiều quan niệm mang khuynh hướng mở về năng lực được hình thành, tiêu biểu như: Theo OECD (2002) – một tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, đã tiến hành nghiên cứu về các năng lực cần đạt của HS phổ thông trong thời kì kinh tế tri thức, đã đưa ra khái niệm năng lực: Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể [12] X.Rogiers đã mô hình hóa khái niệm năng lực thành các kĩ năng hành động trên những nội dung cụ thể trong một loại tình huống hoạt động: Năng lực chính là sự tích hợp các kĩ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung, trong một loạt các tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do tình huống này đặt ra [26].Gardner đã đề cập đến khái niệm năng lực qua việc phân tích 8 lĩnh vực trí năng của con người, đó là: Ngôn ngữ, lôgic toán học, âm nhạc, không gian, vận động cơ thể, giao tiếp, tự nhận thức, hướng tới thiên nhiên. Để 5 giải quyết một vấn đề có thực trong cuộc sống thì con người không thể huy động duy nhất một mặt trí năng nào đó mà kết hợp các mặt trí năng liên quan với nhau.
Sự kết hợp đó tạo thành năng lực cá nhân. Bằng phân tích này H.Gardner đã chỉ ra năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được [25]. Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao [21].
Tác giả Phạm Minh Hạc đã nhấn mạnh đến tính mục đích và nhân cách của năng lực, tác giả đưa ra định nghĩa: Năng lực chính là một tổ hợp các đặc điểm tâm lí của một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lí của một nhân cách), tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhất định, tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy [10]. Theo Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành: Năng lực là “thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [18]. Chương trình đánh giá HS quốc tế - PISA 2012 đã nói rằng: Năng lực toán học là năng lực của một cá nhân nhận biết về ý nghĩa, vai trò của kiến thức toán học trong cuộc sống; là khả năng lập luận và giải toán; biết học toán, vận 6 dụng toán theo cách nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống hiện tại và tương lai một cách linh hoạt; là khả năng phân tích, suy luận, lập luận, khái quát hóa, trao đổi thông tin hiệu quả thông qua việc đặt ra, hình thành và GQVĐ toán học trong các tình huống, hoàn cảnh khác nhau, trong đó chú trọng quy trình, kiến thức và hoạt động [8].
Mặc dù, mỗi nhà khoa học, mỗi tổ chức đều có những quan điểm riêng về năng lực tuy nhiên hầu hết các khái niệm trên về năng lực đều có một số yếu tố chung như: Năng lực được cấu thành bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ hay các đặc tính cá nhân khác cần thiết để từ đó thực hiện thành công những công việc. Nhắc tới năng lực là đề cập đến khả năng có thể thực hiện, hoàn thành nhiệm vụ của từng người. Một người có năng lực về một vấn đề hoặc lĩnh vực hoạt động nào đó cần phải có tri thức về vấn đề hoặc lĩnh vực hoạt động đó. Người đó phải biết cách tiến hành các hoạt động đạt hiệu quả, phù hợp với mục đích và ứng phó linh hoạt, hiệu quả trong những điều kiện mới, không quen thuộc.
Trong luận văn này, có thể hiểu rằng: “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở kết hợp giữa sự hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm của từng cá nhân khác nhau”. Như vậy, năng lực có thể hiểu là những thuộc tính tâm lý riêng của từng cá nhân, mà nhờ những thuộc tính này con người hoàn thành tốt đẹp một hoạt động nào đó, chỉ bỏ ra ít sức lao động mà đạt hiệu quả cao. Năng lực của HS được coi là đích cuối cùng của dạy học và giáo dục. Từ lý do đó mà những yêu cầu về phát triển năng lực của HS cần đặt đúng chỗ của chúng trong mục đích dạy học.
Năng lực của mỗi người, một phần dựa trên cơ sở tư chất, nhưng chủ yếu vẫn được hình thành thông qua hoạt động tích cực của mỗi con người dưới tác động của rèn luyện, của giảng dạy và hoạt động giáo dục. Tóm lại, mỗi cá nhân khác nhau thì năng lực của bản thân cũng khác 7 nhau. Do đó, ta nên tiếp cận vấn đề phát triển năng lực theo hướng tiếp cận nhân cách của người học vì việc hình thành và phát triển nhân cách là phương tiện hiệu quả nhất để phát triển năng lực. Cấu trúc của năng lực Môn Toán có vị trí quan trọng trong giáo dục, trong nhà trường kiến thức toán giúp HS học tốt các môn học khác, trong đời sống hàng ngày các em có được kĩ năng tính toán, vẽ hình, đọc, vẽ biểu đồ, đo đạc, ước lượng… từ đó giúp con người có điều kiện thuận lợi để tiến hành hoạt động lao động trong thời kì công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng. Có nhiều loại năng lực khác nhau, việc mô tả cấu trúc và các thành phần cấu tạo của năng lực cũng khác nhau. Có thể hiểu sự kết hợp của 4 năng lực thành phần tạo nên cấu trúc chung của năng lực, các năng lực thành phần gồm có: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể ([3][2]): - Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Nó được tiếp nhận thông qua việc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động.
- Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Trọng tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận – GQVĐ.
- Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng có thể đạt được những mục đích trong các tình huống giao tiếp ứng xử ngoài xã hội cũng như 8 trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp giữa những thành viên khác nhau trong cộng đồng. Nó được thể hiện rõ ràng trong việc học và thực hành giao tiếp. - Năng lực cá nhân (Induvidual compet ency): Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như giới hạn năng lực của mỗi cá nhân, khả năng phát huy, phát triển được các năng khiếu. Xây dựng và phát triển những kế hoạch của cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử đó.
Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan mật thiết đến năng lực tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm. Mô hình cấu trúc năng lực thành phần trên có thể cụ thể hóa trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau. Tuy nhiên, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp chuyên môn khác nhau người ta cũng có các loại năng lực khác nhau. Ví dụ năng lực của GV bao gồm những nhóm cơ bản sau: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực phán đoán và tư vấn, năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học, năng lực quan sát.
Cấu trúc năng lực thành phần trên phù hợp với bốn trụ cột giáo dục theo UNESCO. Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục theo hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và cả năng lực cá nhân. Những năng lực thành phần trên không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Theo quan điểm phát triển năng lực thì nội dung dạy học không chỉ giới hạn về khía cạnh tri thức và kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực.
Cụ thể: 9 + Học nội dung chuyên môn: Các tri thức chuyên môn (khái niệm, phạm trù, qui luật, mối quan hệ.); các kỹ năng chuyên môn; ứng dụng, đánh giá chuyên môn. Từ đó, nhằm phát triển năng lực chuyên môn. + Học phương pháp - chiến lược: Lập kế hoạch học tập, kế hoạch làm việc; các phương pháp nhận thức chung (thu thập, xử lý, đánh giá, trình bày thông tin); các phương pháp chuyên môn.