Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1 Lịch sử nghiên cứu về giáo dục ngoài giờ lên lớp ở nước ngoài nói chung Lịch sử nghiên cứu về giáo dục thế giới đề cập khá nhiều về tầm quan trọng của lao động, hoạt động thực hành, kết hợp thực tiễn và lý luận trong quá trình dạy-học, tổ chức các hoạt động giáo dục cho học sinh. Arixtot (384-322 TCN), nhà triết học và khoa học vĩ đại nhất của Hy Lạp cổ đại, ông là người đầu tiên phân chia lứa tuổi học sinh (0-7, 7-14, 14-21), ông nhấn mạnh mỗi giai đoạn phải có nội dung, phương pháp giáo dục thích hợp. Nhà triết học kiệt xuất người Hy Lạp Đemocrite (460-370 TCN), người đầu tiên trong lịch sử vượt khỏi ý Chúa để phán xét thế giới, đã đề cập đến tầm quan trọng của giáo dục lao động, ông là người đầu tiên trong lịch sử đưa ra nguyên tắc “Kết hợp giáo dục với lao động và cuộc sống sinh hoạt của trẻ em” [27]. Học thuyết Mác –Ăngghen khi bàn về giáo dục đã nhấn mạnh nội dung giáo dục con người phải phát triển toàn diện, hài hòa “đức, trí, thể, mĩ, giáo dục lao động”, đề cao vai trò của lao động trong việc phát triển nhân cách người học.
Mác khẳng định “ Học tập kết hợp với lao động sản xuất là phương pháp tổng quát của sản xuất xã hội và là phương pháp duy nhất để hình thành con người toàn diện. Lao động tạo ra nhân cách con người v. Triết học Mác- Lenin khi đề cập về giáo dục cũng đã chỉ rõ “lý luận phải gắn liền với thực tiễn” và “Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận; ngược lại, lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn”, theo ông muốn nắm vững tri thức người học cần tích cực lao động trí óc kết hợp với lao động chân tay và hoạt động xã hội “Học, học nữa, học mãi”, “học phải gắn với thực tiễn” [27]. Crúpxcaia (1869- 1939) là một nhà hoạt động chính trị vừa là nhà tâm lý học, giáo dục học Xô viết, bà có nhiều đóng góp cả về lý luận và thực tiễn giáo dục.
Bà đặc biệt chú ý đến ấu nhi, muốn nhi đồng làm theo nguyên tắc “Tập thể vì tôi, tôi vì 5 tập thể”. Bà là một trong những người sáng lập ra tổ chức Đội, Đoàn,…nhấn mạnh năng lực tự quản thông qua các hoạt động của Đội, Đoàn; về lĩnh vực, địa bàn hoạt động là ngoài giờ lên lớp; về hình thức là thông qua các hoạt động vui chơi, thể dục, thể thao, nghiên cứu khoa học v. Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp “Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn đề giáo dục, lại càng không thể để cho quá trình giáo dục chỉ thực hiện trên lớp học, mà đáng ra phải là trên mỗi mét vuông của đất nước chúng ta… Nghĩa là trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trong lớp. Công tác giáo dục chỉ đạo toàn bộ cuộc sống của trẻ” [16].
Theo quan điểm của UNESCO về giáo dục toàn diện là “học để biết, học để làm, học chung sống và học để tự hoàn thiện mình” [20]. Quan điểm sư phạm tiên tiến của thế giới ngày nay phân tích sự hiểu biết qua 6 bậc thang tri thức: biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp và khẳng định được giá trị trong các hệ thống giá trị của cuộc sống. Nhà trường không chỉ thông tin đơn thuần một chiều mà phải tổ chức cho học sinh các hoạt động thực hành, tìm tòi, trải nghiệm thực tế v.vv…qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Như vậy, quá trình dạy- học không chỉ dừng lại ở việc cung cấp tri thức khoa học mà còn phải được áp dụng vào thực tiễn để kiểm chứng, củng cố, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đóng vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục học sinh một cách toàn diện - đây là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục hiện nay.2 Lịch sử nghiên cứu về giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Việt Nam Ở Việt nam, hoạt động GDNGLL luôn được Bộ GD&ĐT coi trọng, đặc biệt trong những năm học gần đây hoạt động GDNGLL đã được Bộ GD&ĐT xây dựng thành chương trình cho các cấp học, có nhiều tài liệu tập huấn dành cho hoạt động GDNGLL.
Hàng loạt các văn bản liên quan tới hoạt động GDNGLL được Bộ GD&ĐT ban hành, cụ thể: 6 - Thông tư số 32/TT của Bộ Giáo dục và TW Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh kí ngày 15/10/1988 quy định về thành phần Ban chỉ đạo HĐGDNGLL: “Mỗi trường thành lập ban chỉ đạo (hay điều hành) các hoạt động ngoài giờ lên lớp dưới sự chủ trì của Hiệu trưởng (hay Phó hiệu trưởng) với sự tham gia của Bí thư Đoàn trường (hay Tổng phụ trách Đội với trường phổ thông cơ sở), ở xã nên có Chủ tịch Hội đồng Đội cùng tham gia và một số giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm phụ trách các hoạt động” [5]. - Khoản 2- Điều 29 Điều lệ trường tiểu học 2010 cũng đề cập đến hình thức tổ chức các HĐGDNGLL “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được tiến hành thông qua việc dạy học các môn học bắt buộc và tự chọn trong chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục ban hành”[3]. - Khoản 4 điều 7 quyết định số 04/2008/QĐ-BGDĐT ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về việc đánh giá kết quả giáo dục các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Bên cạnh đó, có nhiều tác giả có các nghiên cứu đề cập đến hoạt động GDNGLL ở các góc độ khác nhau, các nghiên cứu đã được xuất bản thành các sách hoặc được chuyển tải dưới dạng chuyên đề cho cao học quản lý giáo dục như: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Hà Nhật Thăng v.
Ngoài ra, có một số đề tài nghiên cứu trong nước về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp như : - Đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Tiểu học Cam Phúc Nam” của tác giả Vũ Phương Lan, hiệu trưởng trường Tiểu học Cam Phúc Nam, Cam Ranh, Khánh Hòa [13]. Ưu điểm của đề tài này là nhấn mạnh được tầm quan trọng của HĐGDNGLL trong công tác giáo dục toàn diện cho học sinh ở bậc tiểu học, đưa ra những điểm mạnh và hạn chế trong tổ chức thực hiện các HĐGDNGLL tại một trường tiểu học cụ thể, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý. Tuy nhiên đề tài vẫn còn một số hạn chế như chưa sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục trong tiến hành khảo sát đề tài, một số nội dung trình bày còn sơ sài, đề cập nhiều đến thực trạng HĐGDNGLL hơn là công tác quản lý hoạt động này. 7 - Đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của học sinh trường Trung học phổ thông chuyên Khoa học Tự nhiên thuộc trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Hà, năm 2011[8].
Ưu điểm của đề tài là hệ thống hóa khá đầy đủ những vấn đề lý luận về quản lý, quản lý HĐGDNGLL, đi sâu phân tích về công tác QLHĐGDNGLL tại một trường chuyên biệt, nêu bật các nét đặc thù của trường Chuyên, vị trí và vai trò của HĐGDNGLL đối với học sinh trường THPT Chuyên. Hạn chế của đề tài là phân tích thực trạng theo bốn chức năng của quản lý khá sơ sài, chưa sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục trong khảo sát thực trạng. - Đề tài “Hiệu trưởng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học Phong Thạnh, huyện Gía Rai- Tỉnh Bạc Liêu” của tác giả Nguyễn Quốc Đạt, trường tiểu học Phong Thạnh, huyện Gía Rai, tỉnh Bạc Liêu [7]. Ưu điểm của đề tài là hệ thống khá đầy đủ về cơ sở lý luận của HĐGDNGLL như vị trí, vai trò, mục tiêu, nội dung HĐGDNGLL, hình thức tổ chức HĐGDNGLL v.v…đề cập đến tầm quan trọng của hiệu trưởng nhà trường trong công tác QLHĐGDNGLL, đề tài phân tích thực trạng, tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp theo từng chức năng của quản lý.
Hạn chế của đề tài là mới chỉ áp dụng phương pháp quan sát và phương pháp lý luận để xây dựng cơ sở lý luận và phân tích thực trạng, chưa có số liệu thống kê cụ thể. Nhìn chung có khá nhiều đề tài, nghiên cứu, sách báo nói về hoạt động GDNGLL học sinh tiểu học. Tuy nhiên các vấn đề liên quan tới hoạt động ngoài giờ lên lớp tại tỉnh Bình Dương chưa được đề cập nhiều, chưa có đề tài nào nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học tại Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.2 Các khái niệm cơ bản về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1.1 Khái niệm quản lý Có rất nhiều định nghĩa về thuật ngữ “quản lý”. Taylor “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [17].
Fayol “Quản lý nghĩa là dự kiến, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp và kiểm tra” [17].Marx “Quản lý như là lao động để điều khiển lao động” [17]. Mary Parker Follett đã đưa ra định nghĩa khá nổi tiếng về quản lý “Quản lý là nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác” [17] Một định nghĩa được chấp nhận khá rộng rãi của Stoner, năm 1995 “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức để đạt được những mục tiêu của tổ chức” [17]. Theo GS Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [25].