Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trường trung học phổ thông trong bối cảnh hiện nay Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trường trung học phổ thông Kỹ thuật Việt Trì trong bối cảnh hiện nay Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trường trung học phổ thông Kỹ thuật Việt Trì trong bối cảnh hiện nay 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Giáo dục đạo đức là một trong những nội dung quan trọng của quá trình giáo dục hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, đặc biệt trong tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Có thể kể đến một số hội thảo, công trình nghiên cứu tiêu biểu về giáo dục pháp luật trong thời gian gần đây như Ở phương Đông, Khổng Tử coi giáo dục đạo đức là vị trí hàng đầu và quan niệm có tính hệ thống về phương pháp giáo dục cũng như về tâm lý giáo dục.
Ông cho rằng sự hiểu biết không phải bẩm sinh mà phải được hình thành qua quá trình học tập, rèn luyện lâu dài, bền bỉ. Qua nhiều năm giảng dạy cũng như nghiên cứu, Ông đã căn dặn học sinh rằng: Ở nhà thì ăn ở hiếu thuận với cha mẹ, ra ngoài xã hội thì kính trọng nhường nhịn các bậc huynh trưởng; nên ít lời và đã nói thì phải thành thực, nên thân yêu rộng khắp mọi người. Các đức tính cần phải học tập rèn luyện thì mới có thể phát triển đúng hướng, ứng dụng hoàn hảo như nhân, trí, tín, trực, dũng, cương [33]. Ở phương Tây, Nhà triết học Socrate (470 – 399 TCN) coi tính thiện, đạo đức luôn là nguồn gốc của đạo đức con người, tức là có đạo đức là nhờ sự hiểu biết và con người sau khi có hiểu biết mới trở thành đạo đức [19].
Tại Nhật bản thì đạo đức là môn học bắt buộc dành cho học sinh ở bậc tiểu học và trung học cơ sở. Đạo đức không đơn thuần là một môn học mà còn đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ các khía cạnh trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Chương trình giáo dục đạo đức tại Nhật được xây dựng trên nền tảng pháp luật quốc gia với bộ tiêu chuẩn mà tất cả các trường học từ công lập đến tư thục đều phải thực hiện. Trang đầu tiên cuốn sách đạo đức của học sinh Nhật Bản có một lời nhắn nhủ rất tâm huyết: "Bất kỳ đâu, bất kỳ khi nào, bao nhiêu lần đi nữa, các em hãy mở cuốn sách đạo đức, để suy nghĩ xem trong cuộc sống, điều gì là quan trọng nhất đối 7 với chúng ta và hãy phát huy nó trong đời sống của mình"[12].
Đạo đức có rất nhiều chức năng, trong đó tập trung ở ba chức năng cơ bản là chức năng điều chỉnh hành vi, chức năng giáo dục và chức năng nhận thức. Các nghiên cứu trong nước Vấn đề đạo đức luôn được nhiều nhà quản lý giáo dục quan tâm, nghiên cứu và chọn làm đề tài luận văn để nghiên cứu như đề tài “ Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trung học cơ sở thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Thi, “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức kết hợp với giáo dục pháp luật cho học sinh THPT tỉnh Phú Thọ” của Nguyễn Thị Lý, “ Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT” của Lê Thị Ngọc Thảo Phẩm chất quan trọng nhất của nhân cách đó chính là đạo đức con người. Việc giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay là nhiệm vụ chung của nhà trường, các nhà giáo dục và của toàn xã hội. Việt Nam là đất nước có truyền thống dân tộc với nhiều giá trị tốt đẹp, đó cũng đều nhờ giáo dục mà nên.
Từ các lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã được lưu truyền từ đời này sang đời khác, trở thành những châm ngôn sống, nội dung giảng dạy trong các trường học thời bấy giờ Nước ta có nhiều sách dạy về luân lý, dạy làm người, dạy giao tiếp từ những năm trước cách mạng tháng 8 năm 1945, như các tác phẩm “Cờ bạc nha phiến”, “Phong hóa điều hành”, “Gia huấn ca”, “Đạo đức và luân lý” của Phan Chu Trinh , “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu [18]. Trong các tác phẩm nói về luân lý, dạy làm người thì tác phẩm “Đạo đức và luân lý” của Phan Chu Trinh có tính đề sức mạnh đạo đức, nhân cách, bản lĩnh con người. Theo ông, một dân tộc muốn đứng lên không bị người ta chèn ép thì phải có một nền đạo đức vững chặt, đó là cái tính chất của dân tộc đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử. Như vậy, mặc dù trải qua nhiều các biến động của lịch sử, điều kiện nghiên cứu và nhận thức con người khác nhau nhưng các nhà lãnh đạo cấp cao đến các học giả, các sĩ phu yêu nước, những nhà nghiên cứu đều rất coi trọng việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ.
8 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm phát triển sự nghiệp giáo dục của đất nước, đặc biệt là giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ. Người rất coi trọng vấn đề GDĐĐ cho con người, nhất là lứa tuổi học sinh. Người luôn có ý thức rất rõ ràng về vị trí, vai trò, sức mạnh của đạo đức. Trong GDĐĐ có ba mối quan hệ cơ bản đó là với mình, với người và với công việc thì luôn được người xem xét, coi trọng.
Trong ba mối quan hệ đó, hoạt động của con người hình thành nên những hành vi, chuẩn mực đạo đức, đó là việc mình có nghiêm khắc với chính bản thân hay không? Với gia đình, đối với đồng nghiệp, cấp trên, cấp dưới, đối với quần chúng nhân dân, đối với Đảng và Nhà nước, với kẻ thù thì thái độ của mình như thế nào? Chúng ta thực sự có dành hết tâm huyết với công việc được giao hay không? Điều đó phần nào xác định đạo đức của mỗi người Trong hội nghị lần thứ II của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ “Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”, xuất phát từ mục tiêu lấy con người là trung tâm trong giai đoạn phát triển công nghiệp hoá - hiện đại hoá, Đảng ta đã chỉ đạo “ Mục tiêu chủ yếu là giáo dục toàn diện, đức dục , trí dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học, hết sức coi trọng giáo dục chính trị tư tưởng, nhân cách , khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành”.[ 5] Những kết quả nghiên cứu của các công trình trên đã giúp tác giả tham khảo, nghiên cứu và định hướng cho việc nghiên cứu đề tài của mình. Đã chỉ ra được rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức và sự cần thiết của GDĐĐ. Tuy nhiên, ở tỉnh Phú Thọ nói chung và trường THPT Kỹ thuật Việt Trì nói riêng thì vấn đề GDĐĐ chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống dựa trên đặc điểm đặc thù của nhà trường về lý luận và thực tiễn. Vì vậy qua đề tài này tác giả mong rằng sẽ giúp cho trường THPT KTVT cũng như các trường THPT trong thành phố tìm ra được những giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức ở trường phổ thông trong tỉnh nhà 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý nhà trường 9 1. Quản lý Một công việc mà một người lãnh đạo cần học suốt đời, không thấy chán đó chính là quản lý và những gì họ nghiên cứu cho sự khởi đầu công việc lãnh đạo cũng là quản lý. Quản lý có thể hiểu như là nhiệm vụ của một nhà quản lý, nó gồm hai quá trình luôn song hành với nhau.
Quá trình “ Quản gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ ổn định ”; quá trình “ lý ” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ vào thế “ phát triển ” [22]. Quản lý là khái niệm được xem xét theo hai khía cạnh khác nhau: - Theo khía cạnh chính trị-xã hội: quản lý là sự kết hợp giữa tri thức với lao động, giữa lý thuyết với thực hành. Đề thực hiện thành công sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù hợp với thực tiễn. Để xã hội có thể phát triển được thì phải có cơ chế đúng, hợp lý thì và ngược lại thì xã hội kém phát triển, tụt hậu - Theo khía cạnh các trường phái QLGD: quản lý được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều hành.
Ta có thể đi đến định nghĩa từ những cơ sở lý luận trên, như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động 1. Quản lý nhà trường Nhà trường là một tổ chức chính trị, ở đó tiến hành quá trình dạy và học, chủ thể trực tiếp được giáo dục là con người. Hoạt động đặc trưng của nhà trường chính là hoạt động dạy học. Hoạt động dạy học là hoạt động có kế hoạch, mục tiêu có sự lãnh đạo của nhà quản lý, có sự hoạt động của người học.
Nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục sao cho các nội dung nói trên đạt được các mục tiêu mà xã hội đó đặt ra Nhà trường là nơi tổ chức QL quá trình giáo dục. Quá trình này gồm hoạt động của chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục luôn gắn bó, tương tác, hỗ trợ nhau tựa vào nhau để thực hiện mục tiêu theo yêu cầu của xã hội. Cụ thể, QL nhà trường là hệ thống những tác động của hiệu trưởng đến giáo viên, cán bộ, nhân viên và học 10 sinh trong trường nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục, đạt được mục tiên giáo dục hợp với quy luật và quy chuẩn đề ra. Nội hàm của khái niệm QL nhà trường được nhiều tác giả trong và ngoài nước diễn tả theo nhiều góc độ khác nhau.