CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ HOAT ĐỘNG DẠY HỌC MON TIENG VIET CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HOC THEO HUONG PHAT TRIEN NANG LỰC NGÔN NGỮ 1. Tổng quan nghiên cứu van dé 111. Những nghiên cứu về hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cho HS theo hướng phát triển năng lực ngôn ngữ Cho đến nay, không chương trình GDPT của quốc gia nào lại không chú ý, dé cao và coi trong day học ngôn ngữ quốc gia (chủ yếu là tiếng mẹ đẻ). Biết doc, biết viết là cơ sở và công cụ cho việc học những kiến thức khác, những môn học khác nhăm phát triển toàn diện bản thân, đóng góp vào sự phát triển của gia đình và xã hội.
Từ năm học 2020-2021, cả nước đồng loạt thực hiện chương trình GDPT 2018. Đối với cap TH bat đầu tiễn hành lần lượt từ lớp một. Mục tiêu của chương trình giáo dục phô thông cấp TH chuẩn bị cho HS những cơ sở ban đầu về sự phát triển đức - trí - thé - mĩ. Đây chính là một trong những định hướng cơ bản của việc đôi mới giáo dục, chú trọng việc hình thành năng lực, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học.
Đề thực hiện được mục tiêu chương trình đã đề ra, đòi hỏi mỗi cán bộ quản lý, GV phải không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhằm thực hiện tốt hoạt động dạy học nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở lý luận của triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học giáo dục Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về lý luận dạy học, về hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở bậc TH. Có thé ké đến một số nghiên cứu về vấn đề này như sau: Tác giả Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường, nghiên cứu về đề tài “Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới”. Tác giả đã đi sâu nghiên cứu và phân tích những ưu, nhược điểm của các phương pháp và phương tiện mới khi thực hiện áp dụng trong giảng dạy.
Từ đó người đọc có cách nhìn và vận dụng khoa học trong thực tiễn [9]. Tác giả Nguyễn Đức Minh trong bài viết “Một số vấn đề về đánh giá theo kiến thức, kỹ năng và năng lực của HS” cho thấy việc đánh giá năng lực của HS đóng vai trò rất quan trọng, tác giả đã phân biệt hai thuật ngữ “học được” và “được học”, cụ thé: “được học” là đề cập đến van đề kiến thức, kỹ năng và thái độ mà nhà trường cung cấp và hình thành cho người học và “học được” là tất cả những gì HS lĩnh hội được qua học tập trong nhà trường, gia đình và xã hội [25]. Tác giả Nguyễn Thu Hà nghiên cứu về “Tầm quan trọng của việc xác định mục tiêu dạy và học ở bậc tiêu học”. Tác giả cho rằng giảng dạy theo năng lực là hướng phát triển tập trung vào dau ra của quá trình day và học, trong đó nhấn mạnh người học cần đạt được các mức năng lực như thế nào sau khi kết thúc một chương trình giáo dục: Xây dựng các tiêu chuẩn đầu ra thể hiện rõ mục tiêu của giáo dục, thiết lập được các điều kiện và cơ hội để khuyến khích người học có thể đạt được các mục tiêu ấy [11].
Tác giả Bùi Mạnh Hùng nghiên cứu về “Xây dựng chương trình dạy và học môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực” hướng đến việc phác thảo những nét lớn của một chương trình Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực. Phác thảo này đề xuất đôi mới căn bản và toàn diện chương trình: từ quan niệm về đặc trưng môn học đến mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập. Các nội dung chính yếu theo đề xuất của tác giả gồm: đặc trưng của môn học; mục tiêu giáo dục; nội dung; phương pháp dạy học; đánh giá tập trung chủ yếu vào đánh giá năng lực đọc, viết, nói, nghe và năng lực tư duy của HS, phù hợp với hệ thống chuẩn cần đạt, đặt ra trong bài học ở từng lớp [16]. Tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân có bài viết về “Phát triển một số năng lực chung trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn”.
Tác giả đã nêu các năng lực chung trong chương trình ngữ văn như: năng lực tự học va tự chủ, năng lực ngôn ngữ và hợp tác, năng lực sáng tạo và giải quyết vấn đề. Tác giả đã đề xuất việc phát trién năng lực ngôn ngữ trong môn học Ngữ văn gồm các kỹ năng thành phần và 15 chỉ số hành vi của năng lực ngôn ngữ. Ngoài ra, đề xuất khung dạy học phát triển năng lực của HS vào các môn học và đặc biệt trong nghiên cứu còn chỉ ra mức độ năng lực ngôn ngữ cho HS ở các cấp học [37]. Tác giả Đỗ Việt Hùng và các tác giả, với tài liệu “Dạy - học Tiếng Việt trong nhà trường theo hướng phát triển năng lực”.
Các tác giả cho rằng giáo dục phải hướng tới việc người học làm được gì? mà không hướng tới mục tiêu người học biết gì? Như vậy, năng lực tiếng Việt là năng lực sử dụng Tiếng Việt hiệu quả trong giao tiếp ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội - giao tiếp gia đình, giao tiếp nhà trường, công sở. giao tiếp hành chính, khoa học, văn chương nghệ thuật. Hướng tới việc hình thành và phát triển năng lực cho HS không chỉ tạo ra được tính thực tiễn cao của việc dạy — học Tiếng Việt trong nhà trường mà chính là một “lối thoát” quan trọng, khắc phục tính “hàn lâm” của nội dung dạy học môn Tiếng Việt, vốn được các nhà giáo dục học và các phụ huynh coi là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự quá tải [17]. Những nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh theo hướng phát triển năng lực ngôn ngữ CTGDPT 2018 bắt đầu được tổ chức triển khai thực hiện ở trường TH từ năm học 2020 - 2021 với khối lớp 1, năm học 2021-2022 đối với lớp 2, năm học 2022-2023 đối với lớp 3 đánh dấu lộ trình đầu tiên của việc triển khai và thực hiện đổi mới CTGDPT.
Trong số 27 chương trình môn học và hoạt động ở trường phổ thông, môn ngữ văn nói chung, môn Tiếng Việt cấp tiểu học là một môn học quan trọng, đứng đầu trong danh sách các môn trong chương trình đổi mới. Môn Tiếng Việt cấp TH giúp HS hình thành và phát triển những phẩm chất đáng quý, sử dụng tiếng Việt thành thạo để giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống và học tập tốt các môn học và hoạt động giáo dục khác; hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học; đồng thời bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm dé HS phát triển về tâm hồn, nhân cách. Tiếng Việt là ngôn ngữ gốc của Việt Nam và là công cụ giao tiếp chính thức trong xã hội. HS TH cần phát triển khả năng ngôn ngữ Tiếng Việt dé hiểu và thể hiện ý kiến, cảm xúc và suy nghĩ của mình một cách rõ ràng và chính xác.
HS TH cần nắm vững kỹ năng doc và viết Tiếng Việt dé có thé tiếp cận kiến thức từ các nguồn tài liệu giáo dục, hiểu và phân tích thông tin, cũng như thé hiện suy nghĩ và ý kiến của mình qua việc viết. Khi HS TH nắm vững Tiếng Việt, họ cảm thấy tự tin hơn trong việc giao tiếp và thé hiện ban thân. Họ có thé tự tin thé hiện ý kiến, ý tưởng và cảm xúc của mình một cách chính xác và mạch lạc. Điều này góp phân vào sự phát triên cá nhân toàn diện của HS.
Quản lý hoạt động dạy học là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước hết sức quan tâm. Việc chú trọng đến các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong nhà trường luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động dạy học: Tác giả Phạm Bích Ngọc, nghiên cứu về “Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường TH quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng”, tác gia đã nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở trường TH. Khảo sát và đánh giá thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường TH quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, đề xuất một số biện pháp quan lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường TH quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng [28].
Tác giả Hoàng Tuyết Minh, nghiên cứu đề tài “Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực ở trường TH trên địa ban quận Hà Đông, thành phố Hà Nội”. Tác giả đã làm rõ được sự khác biệt trong tiếp cận năng lực so với các cách thức tiếp cận khác trong giảng dạy môn Tiếng Việt tại các trường TH, phân tích thực tiễn triển khai tại các trường TH quận Hà Đông, Hà Nội [24]. Tác giả Hoàng Thị Việt Hương nghiên cứu về “Thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS của hiệu trưởng các trường TH quận Binh Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh” đã khang định dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS đã trở thành xu hướng chung của giáo dục quốc tế [18]. Tác giả Cu A Dinh trong nghiên cứu về “Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cho HS dân tộc thiểu số ở các trường TH trên địa bàn huyện Dak Glong, tỉnh Đắk Nông” đã phân tích và đánh giá được thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cho HS dan tộc thiểu số ở các trường TH trên địa bàn huyện Đăk Glong, tinh Đắk Nông và đề xuất biện pháp quan lý hoạt động này trên địa ban nghiên cứu [10].
Tác giả Nguyễn Thị Kim Loan nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng việt ở các trường TH quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo hướng tiếp cận năng lực”. Tác giả đã đề cập đến nhận thức về hoạt động dạy học môn tiếng việt ở các trường TH theo hướng tiếp cận năng lực của cán bộ quản lý, GV và một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động. Từ nhận thức trên, có định hướng về tô chức dạy học các phân môn Tiếng Việt sao cho môn học này hướng tới phát triển tốt nhất các năng lực sử dụng tiếng Việt đối với HS TH [22].