đặt vấn đề thực hiện học chế module hóa triệt để. Vào năm 1993, khi những khó khăn chung của đất nước và của các trường đại học dịu bớt, Bộ GD&ĐT chủ trương tiến thêm một bước, thực hiện học chế học phần triệt để hơn, theo mô hình học chế TC của Mỹ. Trường Đại học Bách khoa tp. HCM là nơi đầu tiên áp dụng học chế TC từ năm 1993, rồi các trường Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học Thủy sản Nha Trang v.
và một số trường đại học khác áp dụng từ năm 1994 và các năm sau đó. Hiện nay có gần 100 trường trong cả nước áp dụng học chế TC với các sắc thái và mức độ khác nhau. Trong quá trình từng bước cụ thể hoá chương trình đào tạo theo học chế TC của Mỹ vào Việt Nam, có nhiều tác giả đã nghiên cứu về việc tổ chức các HĐ D-H trong đào tạo theo học chế TC như: Tác giả Lâm Quang Thiệp và tác giả Lê Viết Khuyến –nguyên lãnh đạo vụ đại học, Bộ GD& ĐT, tác giả Đặng Xuân Hải- nguyên lãnh đạo trường Đại học Giáo Dục- ĐHQGHN và nhiều nhà khoa học khác. Các khái niệm công cụ liên quan đến đề tài nghiên cứu 1.
Các khái niệm liên quan đến quản lý đào tạo đại học 1. Quản lý,, chức năng và biện pháp quản lý a, Khái niệm quản lý QL là một hiện tượng xã hội, là yếu tố cấu thành sự tồn tại và phát triển của loài người. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng trải qua nhiều hình thức QL khác nhau. Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của QL trong sự ổn định và phát triển của xã hội.
QL là một phạm trù khách quan, là một tất yếu lịch sử. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về QL dưới góc độ khác nhau.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một giàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng”[29, tr 480]. Taylor được coi là cha đẻ của thuyết QL khoa học đã cho rằng cốt lõi trong QL là phải chuyên môn hoá và phải đảm bảo tính chặt chẽ.
Ông cũng khẳng định rằng QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác, xem một công việc phải được thực hiện như thế nào chứ không thuần túy dựa vào kinh nghiệm. Henri Fayol có cống hiến lớn nhất là xuất phát từ các loại hình “hoạt động QL” và ông đã nhấn mạnh đến cấu trúc của (bộ máy) tổ chức. Ông là người đầu tiên phân biệt hoạt động QL thành 5 chức năng cơ bản: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra mà sau này chúng được kết hợp thành 4 chức năng: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, và kiểm tra” [7, tr 30-31]. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: hoạt động QL là: “Tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) – Trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[9, tr3].
Từ các quan niệm trên, ta thấy bản chất chung các khái niệm QL là một quá trình tác động có ý thức, có định hướng và có tổ chức của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả nhất trong điều kiện biến động của môi trường. QL tồn tại trong mọi quá trình hoạt động của xã hội và là điều kiện quan trọng để tổ chức xã hội vận hành và phát triển. Trong khái niệm QL, ta cần chú ý các yếu tố sau: Chủ thể QL: là một cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức tạo ra những tác động QL. Nó trả lời câu hỏi: Ai QL? Khách thể QL: là những đối tượng tiếp nhận các tác động QL.
+ Khách thể QL có thể là người, trả lời câu hỏi : QL ai? + Khách thể QL có thể là vật, trả lời câu hỏi: QL cái gì? + Khách thể QL là việc, trả lời câu hỏi: QL việc gì? Mục tiêu QL: là căn cứ để chủ thể tạo ra những tác động QL lên đối tượng QL. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quá trình QL mang tính tổng hợp, không tuân theo những quy định cứng nhắc mà phải mềm dẻo, linh hoạt. b, Chức năng của quản lý Chức năng của QL là những nội dung và phương pháp hoạt động cơ bản mà nhờ đó chủ thể QL tác động lên đối tượng QL trong quá trình QL nhằm thực hiện mục tiêu QL. - Chức năng kế hoạch hoá Công tác kế hoạch là công tác trù liệu cho tương lai của tổ chức, tức hoạch định những vấn đề và cách thức giải quyết các vấn đề đó nhằm làm cho tổ chức có thể đối phó, thích nghi với những thay đổi có thể đoán trước cũng như những thay đổi không chắc chắn trong tương lai.
Mức độ xa hay gần của tương lai sẽ tuỳ thuộc vào tầm thời gian của công tác kế hoạch, công tác hoạch định. Càng xa, mức độ dự báo càng khó chính xác, do vậy, nhà QL cần phải thận trọng, khi thực hiện chức năng lập kế hoạch. - Chức năng tổ chức Công tác tổ chức là giai đoạn kế tiếp theo của công tác kế hoạch và là bộ phận không thể thiếu của chức năng QL. Chức năng tổ chức là quá trình xác định các công việc cần phải thực hiện, những người thực hiện các công việc đó, định rõ trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi bộ phận, mỗi cá nhân cũng như mối liên hệ giữa các bộ phận, các cá nhân, các tổ chức, nhất là nguồn nhân lực, giúp cho các thành viên trong tổ chức phát huy tốt nhất năng lực sở trường, tích luỹ kinh nghiệm, nâng cao trình độ.
-Chức năng lãnh đạo Lãnh đạo là quá trình tác động đến con người sao cho họ sẵn sàng, cố gắng, hăng hái hướng tới việc hình thành các mục tiêu. Như vậy, chức năng này bao gồm : “ Việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được những mục tiêu của tổ chức” Lãnh đạo là một trong những hoạt động chủ yếu của các nhà QL vì nó giúp biến những sản phẩm của quá trình kế hoạch hoá và tổ chức thành hiện thực thông qua việc tác động đến con người. Cũng thông qua lãnh đạo, tài năng của nhà QL 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được thể hiện rõ nét với các công việc như tạo lập ảnh hưởng, hình thành uy tín với các thành viên, dẫn dắt tổ chức… - Chức năng kiểm tra Chức năng kiểm tra là phương thức hoạt động của nhà QL tác động lên đối tượng bị QL nhằm thu thập thông tin, đánh giá và xử lý các kết quả vận hành của tổ chức. Kiểm tra là quá trình xác định kết quả đã đạt được trên thực tế, so sánh đối chiếu với mục tiêu đề ra, thu thập các thông tin phản hồi nhằm phát hiện các sai lệch và đề ra các chương trình hành động nhằm khắc phục những sai lệch đó, thực hiện mục tiêu, kế hoạch đã đề ra.
Bốn chức năng trên tạo thành hệ thống QL thống nhất với một trình tự nhất định. Ngoài bốn chức năng trên trong hệ thống QL, yếu tố thông tin có mặt ở tất cả các giai đoạn với vai trò là điều kiện không thể thiếu với việc thực hiện các chức năng QL. Nếu thông tin bị sai lệch thì công tác QL sẽ gặp khó khăn dẫn đến nhà QL có những quyết định sai. c, Biện pháp quản lý Biện pháp có nghĩa là cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề, một công việc cụ thể nào đó.
Biện pháp QL là tổng thể cách thức tác động của chủ thể QL lên đối tượng QL trong quá trình tiến hành các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Biện pháo QL là yếu tố động, thường được thay đổi theo đối tượng và tình huống. Căn cứ vào tác động của chủ thể QL lên đối tượng QL, có thể chia thành các nhóm biện pháp cơ bản sau: - Biện pháp thuyết phục Biện pháp thuyết phục là cách tác động cà nhận thức của con người bằng lí lẽ cho con người có nhận thức đúng đắn và tự nguyện thừa nhận những yêu cầu của QL và từ đó có thái độ và hành vi phù hợp với các yêu cầu đó. - Biện pháp tổ chức - hành chính Biện pháp tổ chức – hành chính là cách tác động trực tiếp của hệ QL đến hệ bị QL trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính bằng mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định.
Biện pháp này thể hiện sức mạnh của tổ chức, xác lập trật tự kỷ cương 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của bộ máy, giúp cho các quyết định QL được thi hành nhanh chóng và chính xác, tăng hiệu quả hoạt động QL. - Biện pháp kinh tế Biện pháp kinh tế là cách tác động của chủ thể QL tới đối tượng QL thông qua lợi ích kinh tế, tạo động lực thúc đẩy con người tích cực hoạt động. - Biện pháp tâm lý – giáo dục Biện pháp tâm lý – giáo dục là cách tác động của chủ thể QL tới đối tượng QL thông qua đời sống tâm lý cá nhân, các hệ tư tưởng , tâm tư tình cảm, nguyện vọng của họ. Biện pháp này dựa trên cơ sở các quy luật tâm lý của con người dựa vào uy tín của người QL để lôi cuốn các thành viên trong tổ chức hăng hái, tích cực tham gia công việc.
Các nhà QL cần biết phối hợp cá biện pháp QL một cách linh hoạt nhằm khai thác mặt mạnh, hạn chế mặt nhược điểm của từng biện pháp. Không có một biện pháp nàp là hoàn hảo tối ưu hay hoàn toàn hạn chế. Vận dụng các biện pháp thành công đem lại hiêu quả QL. Điều đó dựa vào khả năng sáng tạo và sự mềm dẻo, linh hoạt của các nhà QL.
Quản lý hoạt động dạy-học a, Khái niệm hoạt động Về phương diện triết học, hoạt động là phương thức tồn tại cua con người trong thế giới.