Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động dạy học với trẻ khiếm thính Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tại trƣờng Khiếm thính Hải Phòng. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tại trƣờng Khiếm thính Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VỚI TRẺ KHIẾM THÍNH 1.
Lịch sử nghiên cứu của đề tài 1. Hoạt động dạy học trẻ khiếm thính trên thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới Thế kỷ XVI xuất hiện một lớp học chuyên biệt cho trẻ em điếc - câm tại Tây Ban Nha, do Ponce Delean sáng lập. Sự thành công của lớp học này là điểm đột phá cho GD đặc biệt ra đời và phát triển.
Năm 1760 ở Paris, tu sĩ Pháp Abbé de L’Epee đã sáng lập ra trƣờng dạy HSKTh bằng phƣơng pháp sử dụng thủ ngữ điệu bộ (ra dấu). Sau này đƣợc Sicard kế tục phát triển thành một trƣờng phái dạy HSKTh theo phƣơng pháp “Thủ ngữ điệu bộ thuần túy”. Thế kỷ XIX, Gainike ngƣời Đức mở trƣờng dạy HSKTh sử dụng ngôn ngữ nói thuần túy. Ngoài ra còn có một số trƣờng phái khác thành lập trƣờng dạy trẻ điếc theo phƣơng pháp chữ viết (bút đàm) là chính.
Sang thế kỷ XX, nhiều nƣớc trên thế giới phát triển mạnh mẽ các trƣờng chuyên biệt dạy HSKTh theo nhiều phƣơng pháp khác nhau. Gần đây vấn đề trẻ em khiếm thính ngày càng đƣợc tất cả các quốc gia và cộng đồng ngƣời trên thế giới quan tâm. Xu hƣớng tƣ tƣởng mới trong giai đoạn này là đẩy mạnh hội nhập và tham gia xã hội đồng thời xóa bỏ sự tách biệt. Trong phạm vi giáo dục, điều này đƣợc thể hiện thông qua việc xây dựng các chiến lƣợc nhằm tìm kiếm và mang lại sự bình đẳng về cơ hội cho trẻ khiếm thính.
Ở Việt Nam Năm 1866, một linh mục ngƣời Pháp là Azemar đã thành lập trƣờng dạy trẻ điếc Thuận An (Bình Dƣơng), là trƣờng học HSKTh đầu tiên của Việt Nam. Đến năm 1903 trƣờng đƣợc một số tổ chức ngƣời khiếm thính ở Pháp 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhận đỡ đầu Ban đầu đối tƣợng học sinh của trƣờng là trẻ mồ côi, sau thu nhận trẻ em câm, điếc, mù và các tật khác. Năm 1954, tại phố Hàng Lƣợc (Hà Nội) xuất hiện một cơ sở dạy học cho trẻ điếc do một cô giáo bị điếc dạy học theo phƣơng pháp cử chỉ điệu bộ và chữ viết (bút đàm). Những năm 60 và đầu 70, bệnh viện Bạch Mai có chƣơng trình dạy cho HSKTh, ngƣời chủ trì là bác sĩ Trần Hữu Tƣớc.
Quan niệm về giáo dục TKTh không chỉ dừng lại ở sự thƣơng hại, mà dần dần đã trở thành mục tiêu giáo dục ở Việt Nam. Sau năm 1975 có nhiều trƣờng hoặc trung tâm dạy trẻ khuyết tật đƣợc thành lập trong cả nƣớc đều thuộc quyền quản lý của Bộ LĐTB&XH. Đến ngày 17/4/1995, phần lớn các trƣờng dạy trẻ khuyết tật đƣợc bàn giao cho Bộ GD&ĐT quản lý, theo Nghị định 26/CP của Chính phủ. Các trƣờng có mô hình giáo dục ổn định, có nhiều kinh nghiệm trong quản lý và dạy học, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam.
Năm 1978 trƣờng dạy trẻ điếc ở Xã Đàn (Hà Nội) ra đời, nhƣ là mô hình mẫu về nội dung, chƣơng trình, phƣơng pháp trong cả nƣớc. Tiếp đó là hàng loạt các trƣờng chuyên biệt và trung tâm nuôi dạy HSKTh đƣợc xây dựng và đi vào hoạt động: Nhân Chính (Hà Nội), Hải Phòng, Hải Hƣng, Hà Tây, Nghệ An, Đà Nẵng, Đà Lạt… Tại các quận (huyện) của TP Hồ Chí Minh các trƣờng chuyên biệt với tên chung là trƣờng Hy vọng nhƣ các quận 1, 4, 5, 8, 10, 11, Gò Vấp, Bình Thạnh. Các trƣờng thực hiện chƣơng trình dạy học ở dựa theo bậc tiểu học, đƣợc điều chỉnh tùy theo trƣờng và một số môn đặc thù theo đặc điểm tâm lý học sinh. Về phƣơng pháp các trƣờng sử dụng nhiều phƣơng pháp dạy học khác nhau.
Về công tác quản lý các trƣờng khuyết tật ở các tỉnh và thành phố hầu nhƣ trực thuộc Sở Giáo dục & Đào tạo. Một số nghiên cứu về quản lý HĐDH TKTh ở Việt Nam Những năm gần đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về mô hình quản lý và giáo dục chuyên biệt TKT gần gũi với đề tài chúng tôi nghiên cứu nhƣ: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Chuyên đề “Tìm hiểu sự phát triển ngôn ngữ nói của trẻ khiếm thính 3 đến 6 tuổi” - Nguyễn Hữu Dũng - Hà Nội - 1999. - Đề tài “Thực trạng đội ngũ giáo viên dạy trẻ khuyết tật ở một số tỉnh phía Nam và các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo” - Nguyễn Hữu Chùy - TP. Hồ Chí Minh - 2003.
- Chuyên đề “Giáo dục nghệ thuật để phát triển tƣ duy cho trẻ khiếm thính 6 - 9 tuổi” - Lê Anh Cƣờng - 2004. - Đề tài “Biểu tƣợng về học đƣờng ở trẻ khiếm thính từ 13 đến 17 tuổi” - Nguyễn Ngọc Diệp - TP. - Chuyên đề “Thực trạng sử dụng phƣơng pháp dạy học nhằm phát triển nhận thức cho trẻ khiếm thính tại một số trƣờng chuyên biệt trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh” - Phạm Thị Ngọc Bích - TP.
Hồ Chí Minh - 2005. - Đề tài “Biện pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại trƣờng tiểu học Hải Vân” - Nguyễn Trƣờng Phi - TP. Các tác giả quan tâm nâng cao chất lƣợng giáo dục trẻ khuyết tật nói chung và trẻ khiếm thính nói riêng tại các trƣờng học, địa phƣơng khác nhau. Tuy nhiên, chƣa đề tài nào đề cập đến việc quản lý hoạt động giáo dục TKTh trong một trƣờng học chuyên biệt cụ thể.
Với đề tài này, chúng tôi khảo sát thực trạng và đề xuất một số biện pháp của Hiệu trƣởng trƣờng Khiếm thính Hải Phòng nhằm nâng cao công tác quản lý hoạt động dạy học TKTh. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 1. Quản lý - Khái niệm quản lý Sử gia D.Wren đã nhận xét “Quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy” và ghi nhận: chỉ mới gần đây ngƣời ta mới chú ý đến chất khoa học của quá trình quản lý, dần dần hình thành nên các lý thuyết và những nhà quản lý đã vận dụng những ƣu điểm đó vào sự phát triển của loài ngƣời.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Taylor (1856 - 1915), ngƣời Mỹ: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất”. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [15, tr. Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [22, tr.
Tác giả Trần Kiểm khẳng định: “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội ” [30, tr. Những định nghĩa trên đây, tuy khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ tiếp cận nhƣng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản của khái niệm quản lý, các định nghĩa trên, ta có thể hiểu: Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra. - Chức năng quản lý Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, khoa học quản lý xác định 4 chức năng cơ bản của hoạt động quản lý [34, tr. 7]: Chức năng kế hoạch hoá: Là căn cứ vào thực trạng ban đầu của tổ chức và căn cứ vào nhiệm vụ đƣợc giao mà vạch ra mục tiêu của tổ chức trong từng thời kỳ, từng giai đoạn, từ đó tìm ra con đƣờng, biện pháp, cách thức đƣa tổ chức đạt mục tiêu đó.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chức năng tổ chức: Là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những con ngƣời, những dạng hoạt động thành một hệ toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tƣơng tác với nhau một cách tối ƣu. Chức năng lãnh đạo (chỉ đạo): Là phƣơng thức tác động của chủ thể quản lý nhằm điều hành tổ chức, nhân lực đã có của tổ chức vận hành theo đúng kế hoạch đã đề ra và đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ra trong trật tự, kỷ cƣơng nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. Chức năng kiểm tra, đánh giá: Là những tác động của chủ thể quản lý nhằm đánh giá và xử lý các kết quả vận hành của tổ chức. Bốn chức năng của quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau và diễn ra có tính chu kỳ trong khoảng thời gian, không gian xác định.
Hệ thống thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý, đƣợc coi là mạch máu lƣu thông giữa các bộ phận đảm bảo cho toàn bộ hệ thống hoạt động, đảm bảo sự thống nhất trong quản lý. Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý và hệ thống thông tin đƣợc biểu diễn bằng sơ đồ chu trình quản lý nhƣ sau: Kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo Sơ đồ 1. Các chức năng và thông tin trong chu trình quản lý 1. Quản lý giáo dục Theo nghĩa tổng quát, đó là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lƣợng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo theo yêu cầu phát triển xã hội.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về QLGD Ở Việt Nam, quản lý giáo dục cũng là một lĩnh vực sớm đƣợc đặc biệt quan tâm. Ngay từ Hội nghị lần thứ 2 BCH Trung ƣơng Đảng CSVN (khoá VIII) đã viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.