Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông 2018 Theo Jacob W. Campbell (1968) nói về việc tiếp cận khoa học quản lý và khoa học hành vi để nghiên cứu về QLDH và quản lý nhà trường đi sâu vào mối quan hệ giữa con người với con người trong các tổ chức và nhu cầu, động lực làm việc, tính sẵn sàng làm việc trong quản lý trên cơ sở đó để đề xuất các phong cách và biện pháp QLDH ở trường phổ thông.
RogerEllis (1993) nghiên cứu về QLDH dựa trên tiếp cận giữa mối quan hệ và chất lượng DH với động lực học tập của HS. Theo tác giả “việc giảng dạy phải đi đến thúc đẩy HĐ học tập của HS ngày càng tốt hơn, trên cơ sở đó tác giả chỉ rõ vai trò của GV và nhà quản lý trong tổ chức quản lý HĐDH”. Tác giả Nobert Herrmann(2012) [69], từ một cách tiếp cận khác lại đưa ra các bài toán thực tiễn gắn liền với các kiến thức, kĩ năng thực hành nhằmgiúp độc giả có thể thấy được vẻ đẹp của thực hành gắn với bối cảnh thực tiễn. Đối với mỗi tình huống đưa ra, Ông đều phân tích về tình huống, bối cảnh, các kết quả thu được qua phân tích tình huống, qua đó làm toát lên vẻ đẹp của Toán học gắn với bối cảnh cuộc sống [dẫn theo 18].
Tại Việt Nam, trong bài nghiên cứu “Lý thuyết về dạy học hiện đại: Trên cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và PPDH” (2014) các tác giả Benrd Meier và Nguyễn Văn Cường đã bày tỏ quan điểm rằng: Hai tác giả đã đưa ”Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học”[2]. Quan điểm trên thể hiện trong việc giáo dục để chú trọng vào khả năng và năng lực vận dụng các kiến thức vào giải quyết các tình huống, nhiệm vụ thực tiễn, nhằm phát triển năng lực chung và năng lực chuyên biệt cho mỗi con người để giải quyết các tình huống trong cuộc sống và nghề nghiệp. Hai tác giả cùng đưa ra lý luận về học tập và chiến lược học tập, mô hình DH, giáo dục, phát triển năng lực và mục tiêu DH, nội dung DH, PPDH, phương tiện DH, bài tập định hướng năng lực, đánh giá (ĐG) và cho điểm thành tích học tập cho học sinh (HS). Khi bàn về “Dạy học phát triển năng lực sáng tạo cho HS phổ thông: Lý thuyết và thực hành”, tác giả Lê Kim Long, Hồ Thị Nhật và Trần Thị Bích Liễu (2016) cùng chỉ ra những vấn đề chung về phát triển năng lực sáng tạo 5 cho HS: các tiêu chí đánh giá (ĐG), mẫu kế hoạch (KH) bài dạy, mẫu phân tích tính tích cực của HS, mẫu quan sát giờ dạy phát triển năng lực sáng tạo cho HS; hướng dẫn phát triển năng lực sáng tạo cho HS trong một số môn học và qua các câu lạc bộ sáng tạo [25].
Để thực hiện các nhiệm vụ học tập của HS cũng như khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng giải bài toán và thái độ để giải quyết các tình huống thực tế là hai nhiệm vụ cơ bản trong ĐG dựa trên năng lực. Để nâng cao hiệu quả ĐG dựa trên sự phát triển kỹ năng của HS, ta cần tiến hành đồng bộ các hành động: giúp CBQL và GV hiểu rõ về việc ĐG (ĐG về sự tiến bộ của HS); ĐG trong quá trình học tập (QTHT), khả năng áp dụng vào thực hiện, khả năng tư duy bên ngoài.); làm rõ khái niệm kỹ năng, năng lực của HS THPT. Sử dụng các hình thức và phương pháp đánh giá (PPĐG) hiện đại và truyền thống. Một ví dụ điển hình về PP tiếp cận định hướng ĐG trong nghiên cứu phát triển sinh viên là tác giả Nguyễn Thu Hà.
Tác giả cho rằng PPĐG quyết định hiệu quả của việc ĐG theo định hướng phát triển các kỹ năng của HS. Theo Nguyễn Thu Hà, “ Để ĐG chính xác mức độ phát triển năng lực của HS cần vận dụng linh hoạt nhiều hình thức và công cụ ĐG khác nhau. PPĐG năng lực cần kết hợp cả ba yếu tố: mức độ nắm vững kiến thức; mức độ thành thục và hiệu quả của kỹ năng, kỹ xảo và thái độ trong giải quyết vấn đề để giải quyết vấn đề, nhiệm vụ học tập ở các tình huống khác nhau” [11, tr. Từ cái nhìn tổng quan trên có thể thấy có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu vấn đề dạy học theo hướng phát triển năng lực, trong đó có một số lượng lớn các nhà giáo dục học và tâm lý học đã đề cập sâu rộng và toàn diện vị trí và vai trò của tổ chức trong QTDH, nhất là tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng DH, vai trò của thầy và trò, việc đổi mới nội dung, PPDH nhằm để phát triển phẩm chất và kỹ năng của HS.
Nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học môn Toán đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông 2018 Trong công tác quản lý của nhà trường, việc kiểm soát tiết dạy là một trong những nội dung quan trọng nhất, đồng thời là nhiệm vụ trọng tâm của ban giám hiệu (BGH). Nhất là trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay, QLGD nói chung, thì việc quản lý các HĐDH là một chủ đề được nhiều nhà giáo dục quan tâm và nghiên cứu. Các bài báo nghiên cứu học thuật và giáo trình QLGD của Đặng Quốc Bảo (2004), Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2003), Nguyễn Công Bằng và Cao Duy Bình tất cả đều tập trung tìm hiểu các biện pháp quản lý nhóm, trong số các hoạt động (HĐ) cải tiến chất lượng của GV và HS nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Ngoài ra còn có thể kể đến các công trình khác như: Đại cương khoa học quản lý (Nguyễn Quốc Chí).
Bên cạnh đó, các công trình khác cũng cần kể đến như: Khoa học quản lý đại cương (Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn 6 Thị Mỹ Lộc - 2010); Những Vấn Đề Lãnh Đạo - Quản Lý Và Ứng Dụng Vào Quản Trị Học Đường, Bài Giảng Sinh Viên QLGD (Đặng Quốc Bảo - 2010). Nhìn chung, trên những cơ sở để nghiên cứu chung về dạy học theo hướng phất triển năng lực của HS, các tác giả đều đề cập đến các điểm sau: nội dung, chương trình theo hướng tiếp cận năng lực HS. Thiết kế dạy học và KTĐG, kết quả học tập (KQHT) nhằm phát triển năng lực HS, năng lực tự học, năng lực tự phát hiện kiến thức mới cụ thể là nâng cao chất lượng dạy học (DH) các môn học để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường nói chung. Môn Toán theo hướng phát triển kỹ năng của HS đáp ứng yêu cầu CTGDPT 2018.
Vì vậy, tác giả quyết định nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở các trường Trung học cơ sở huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông 2018” và đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng DH môn học này. Các khái niệm cơ bản 1. Hoạt dộng dạy học và quản lý hoạt động dạy học 1. Hoạt động dạy học Dạy học là một quá trình, một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể ở trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng nhằm hình thành phẩm chất và năng lực theo mục tiêu của CTGD đã đề ra.Trong nhà trường THCS, HĐDH là HĐ cơ bản nhất, chủ yếu và là HĐ trọng tâm có chức năng trội để hình thành và phát triển năng lực HS.
Quan niệm về dạy học có nhiều định nghĩa khác nhau: Theo tác giả Đỗ Ngọc Đạt (2000) quan niệm: “Dạy học là khái niệm chỉ HĐ chung của người dạy và người học, hai HĐ này song song tồn tại và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất. Quá trình này là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục tổng thể, trong đó: Vai trò của nhà sư phạm là định hướng, tổ chức,….giữ vai trò chủ đạo; người học tiếp thu một cách có ý thức độc lập, sáng tạo.hình thành phát triển năng lực. Người học là chủ thể sáng tạo của việc học, của việc hình thành phát triển nhân cách của bản thân” [8]. Theo khái niệm trên thì dạy học là một quá trình tương tác giữa thầy và trò là hai mặt HĐ của trong một quá trình cùng chung một mục đích chính.
Chủ thể HĐDH là GV đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn và điều khiển các HĐ học, còn HS đóng vai trò tự tổ chức, tự học. Trong quá trình dạy học (QTDH), hai HĐ này luôn tồn tại và hỗ trợ cho nhau cùng phát triển, giúp cho việc học ngày càng nâng cao hơn. Theo hai tác giả Nguyễn Văn Hộ, Hà Thị Đức: “Dạy học là một quá trình gồm các thành tố có mối quan hệ tương tác, biện chứng với nhau giúp cho QTDH phát triển không ngừng. QTDH bao gồm: Mục đích, nhiệm vụ dạy 7 học giữ vai trò định hướng cho HĐDH, nội dung DH là một trong những thành tố cơ bản phối hợp giữa thầy và trò, PPDH là một cách thức HĐ để phối hợp giữa thầy và trò, các hình thức tổ chức DH là những hình thái tồn tại khác nhau của QTDH, người dạy giữ vai trò chủ đạo, người học đóng vai trò trung tâm, tự tổ chức, tự thực hiện; ĐG kết quả dạy học.
QTDH có sự tương tác chặt chẽ với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội bên ngoài nó. Những thành tố trên tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau và hỗ trợ cho nhau nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ dạy học đề ra, đồng thời nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học” [12]. Theo Nguyễn Văn Cường (2014): “QTDH là một quá trình tương tác giữa người dạy với người học và đối tượng (nội dung) học tập” [14]. Quá trình tương tác giữa các thành tố trên được thực hiện trong mối quan hệ biện chứng với nhau trong đó GV giữ vai trò chủ đạo, người học đóng vai trò trung tâm, tự giác tích cực, nội dung học tập là thành tố cơ bản tạo nên HĐ phối hợp giữa dạy và học, giữa thầy và trò.
Theo tác giả các thành tố trên có mối quan hệ biện chứng với nhau trong bộ ba tam giác sư phạm người dạy - người học và nội dung học tập, được diễn ra trong các điều kiện cụ thể về PP, hình thức tổ chức DH, phương tiện hỗ trợ dạy học, thời gian và địa điểm nhất định.