CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHỦ NHIỆM LỚP 1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đề tài Hoạt động chủ nhiệm lớp, mà hạt nhân là GVCN giữ một vị trí quan trọng và có ý nghĩa trong nhà trường phổ thông, đặc biệt đối với những năm học "bản lề" như năm cuối cấp THPT - khi học sinh đứng trước những lựa chọn mới về học vấn, nghề nghiệp. Trong thời gian qua, vấn đề quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp ở các trường phổ thông đã được nhiều tác giả, nhà khoa học nghiên cứu. Đây là một trong những vấn đề rất quan trọng trong hoạt động của nhà trường.
Có thể nói, hoạt động chủ nhiệm lớp như là cầu nối gắn kết quá trình tổ chức dạy - học và quản lý duy trì các hoạt động trong nhà trường. Các nghiên cứu, khảo sát đã cho chúng ta những kết quả nhất định, được công bố dưới các hình thức là tài liệu, bài viết, báo cáo khoa học, sách tham khảo, luận văn… Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu về vấn đề này như sau: - Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông của Hà Nhật Thăng (chủ biên) - Nhà xuất bản Giáo dục, 2009; - Những tình huống giáo dục học sinh của người giáo viên chủ nhiệm của Hà Nhật Thăng (chủ biên) - Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2000; - Giáo dục học (Chương XVI, Người giáo viên chủ nhiệm) của Phạm Viết Vượng- Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội 2010; - Kỷ yếu hội thảo - Công tác giáo viên chủ nhiệm ở trường phổ thông - Nhà xuất bản Giáo dục, 2010; - Một số vấn đề trong Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT hiện nay - Nguyễn Thanh Bình (chủ biên), Nhà xuất bản ĐHSP, 2011; - Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường Trung học phổ thông của Hà Nhật Thăng (chủ biên) - Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2004. Một số bài viết đăng trên Tạp chí giáo dục như: - Rèn luyện một số kỹ năng làm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên Cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh. số 126 (11/2005); 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên Cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh số 135 (kỳ 1 - 4/2006).
- Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp ở trường hữu nghị T78 - Lê Phú Thăng số 10/2010. - Một số biện pháp tăng cường quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác chủ nhiệm lớp trong các trường THPT tỉnh Bắc Ninh - 2005 của Nguyễn Khắc Hiền. -Và một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu công tác CNL ở các đơn vị công tác khác nhau trong cả nước. Tuy nhiên, nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp ở trường THPT thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên trong bối cảnh mới, thì chưa có tác giả nào đề cập đến.
Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu, kết hợp với thực tiễn, kinh nghiệm công tác của mình, tôi chọn vấn đề: “Quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp ở trường THPT thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Hoạt động quản lý, chức năng của quản lý 1. Hoạt động quản lý Quản lý là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra.
Trong xã hội loài người, quản lý là một hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội. Quản lý là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển của xã hội. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau. Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. - Trong quản lý, bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý. Những tác động quản lý chính là những quyết định quản lý, là những nội dung chủ thể quản lý yêu cầu đối với đối tượng quản lý.Mác so sánh một cách hình ảnh: Nhạc trưởng đối với hệ thống nhạc công, trong đó nhạc trưởng là một chủ thể quản lý, nhạc công là chủ thể bị quản lý (các nhạc công chịu sự tác động của nhạc trưởng) để đưa đến một sản phẩm “kép” một sản phẩm “siêu sản phẩm” - Đó là cả chủ thể quản lý và chủ thể bị quản lý đều phát triển (hoạt động tạo ra các chủ thể và về sự phát triển của con người).
- Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của một quá trình lao động xã hội. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển. - Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện. Điều đó cũng xác lập rằng quản lý phải có một cấu trúc và vận hành trong một môi trường xác định.
Môi trường quản lý Mục tiêu quản lý Chủ thể quản lý Khách thể quản lý Sơ đồ 1. Cấu trúc của một hệ thống quản lý 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chức năng của quản lý Hiện nay quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Nói cách khác, xét theo quá trình quản lý có bốn chức năng quản lý cơ bản mà người quản lý dù ở cấp quản lý nào cũng phải thực hiện, cụ thể: Một là, chức năng kế hoạch hóa là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các biện pháp tốt nhất để đạt các mục tiêu đó.
Nội dung thực hiện chức năng kế hoạch: Phân tích bối cảnh, xác định mục tiêu phát triển tổ chức; lập các kế hoạch thực hiện mục tiêu; triển khai thực hiện kế hoạch; đánh giá, điều chỉnh kế hoạch (nếu cần). Hai là, chức năng tổ chức là quá trình tiếp nhận, phân phối, sắp xếp các nguồn lực tạo ra một cơ cấu tổ chức thích hợp đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu đề ra để tổ chức phát triển. Nội dung chức năng tổ chức bao gồm: xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lý và năng động, phù hợp với yêu cầu thực thi nhiệm vụ; xây dựng, phát triển đội ngũ đảm bảo yêu cầu của tổ chức; xác lập mối quan hệ và cơ chế hoạt động; tổ chức công việc khoa học. Ba là, chức năng chỉ đạo là quá trình tác động, ảnh hưởng tới hành vi thái độ của cấp dưới thông qua các hoạt động hướng dẫn, giúp đỡ, đôn đốc, động viên và thúc đẩy những người dưới quyền làm việc với hiệu quả cao nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
Nội dung chức năng chỉ đạo: thực hiện quyền chỉ huy, giao việc và hướng dẫn triển khai nhiệm vụ; đôn đốc, động viên, kích thích tạo động lực làm việc cho nhân viên; giám sát, sửa chữa đảm bảo các hoạt động đúng hướng, bám sát yêu cầu thực thi kế hoạch của tổ chức; xây dựng môi trường thúc đẩy các hoạt động phát triển. Bốn là, chức năng kiểm tra là quá trình xem xét thực tiễn, đánh giá thực trạng, khuyến khích những cái tốt, phát hiện những sai phạm, điều chỉnh nhằm đạt tới những mục tiêu đặt ra và góp phần đưa toàn bộ hệ thống được quản lý lên một trình độ cao hơn. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nội dung thực hiện chức năng kiểm tra: xác định các tiêu chuẩn để đánh giá; đánh giá kết quả thực tế: thu thập thông tin về đối tượng được kiểm tra; so sánh kết quả đo đạc thực tế với chuẩn để phát hiện mức độ thực hiện tốt, vừa, xấu của các đối tượng quản lý; điều chỉnh. Bao gồm: tư vấn (uốn nắn, sửa chữa); thúc đẩy (phát huy thành tích tốt); hoặc xử lý.
Bốn chức năng này được coi như bốn công đoạn tạo nên một chu trình quản lý. Các chức năng này có quan hệ chặt chẽ với nhau, đan xen với nhau và đều cần đến thông tin quản lý [3]. Quản lý giáo dục 1. Khái niệm giáo dục Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt.
Bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người. Nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó xã hội loài người không ngừng tiến lên. Theo Từ điển Giáo dục - NXB Từ điển bách khoa: “Giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bối dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách, phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội”. Giáo dục là khái niệm cơ bản, quan trọng nhất của giáo dục học.
Về bản chất, giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người. Về hoạt động, giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách. Về mặt phạm vi, khái niệm giáo dục bao hàm nhiều cấp độ khác nhau: + Ở cấp độ rộng nhất, giáo dục được hiểu đó là quá trình xã hội hoá con người.