Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM VÀ CHA MẸ HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề hoạt động phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh Trong kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam từ xưa đã có rất nhiều câu nói khẳng định vai trò của người thầy trong giáo dục: “Muốn sang thì bắc Cầu Kiều Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy” Hay “Không thầy đố mày làm nên”. Nhưng cũng có những câu đề cao vai trò Khóa luận tốt nghiệp đại học của người cha, người mẹ trong giáo dục con cái của họ: “Con ơi muốn nên thân người, Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha” Như vậy có thể thấy mối quan hệ giữa nhà trường, giáo viên và cha mẹ học sinh trong giáo dục học sinh đã được khẳng định từ xưa. Cả những nhà giáo dục lỗi lạc như Khổng Tử từ châu Á đến J.A Komenxki từ Châu Âu cũng đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự phối hợp giữa giáo viên, nhà trường và cha mẹ học sinh trong việc giáo dục học sinh, thực hiện mục đích giáo dục con người: Khổng Tử (551 – 479 TCN) coi trọng việc giáo dục đạo đức trong nhân cách con người, đó là việc giáo dục long nhân ái và biết sống có trên dưới, trung trực, thủy chung có kỉ cương từ gia đình đến xã hội [10]; J. Trong những năm gần đây, để khẳng định một lần nữa vai trò của gia đình, của cha mẹ học sinh và tác động của lực lượng giáo dục này đến kết quả học tập rèn luyện của học sinh thì đã có hang loạt các đề tài nghiên cứu về thực trạng đã được nhiều thạc sĩ thực hiện.
Nhằm, thông qua đó xây dựng hệ thống cơ sở lý luận vững chắc; nhấn mạnh tầm vai trò của cha mẹ học sinh trong hoạt động phối hợp; đánh giá thực trạng và đề ra những giải pháp duy trì, phát huy mối quan hệ, hoạt động phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm, nhà trường và cha mẹ học sinh trong xây dựng, duy trì, thống nhất môi trường giáo dục góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Với nhóm đề tài “Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường mầm non, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh” của tác Khóa luận tốt nghiệp đại học giả Tạ Thị Thanh An; “Quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với cha mẹ học sinh ở các trường trung học cơ sở vùng nông thôn thị xã Bà Rịa Vũng Tàu” của tác giả Dương Văn Thạnh; “Thực trạng quản lý sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Cần Đước, tỉnh Long An” của tác giả Hồ Văn Thơm; “Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường trung học phổ thông tỉnh Bình Dương” của Trương Hải Thanh…. đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình theo từng cấp học (mầm non, trung học cơ sở, trung học phổ thông) với các nội dung hoạt động, quản lý phối hợp tương ứng. Qua các khảo sát, đánh giá tác giả đã khái quát và làm rõ thực trạng quản lý, thực trạng phối hợp trong giáo dục giữa nhà trường và gia đình, cha mẹ học sinh theo nhiều phương diện khác nhau.
Ở mỗi đề tài, các tác giả cũng đã nêu rõ ưu điểm, 8 hạn chế trong tổ chức thực hiện phối hợp và chức năng quản lý của cán bộ quản lý. Đồng thời đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý. Với nhóm đề tài “Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng ở các trường trung học phổ thông huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai” của tác giả Phan Duy Khánh; “Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng ở các trường trung học phổ thông quận 2, thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Thị Huỳnh Cúc; “Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường trung học phổ thông tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Trần Thị Thúy; “Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng trường trung học cơ sở trên địa bàn quận 11, thành phố Hồ Chí Minh”của Trần Kiều Dung….đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và nghiên cứu thực trạng về công tác chủ nhiệm lớp, hoạt động của giáo viên chủ nhiệm, về quản lý của hiệu trưởng đối với đội ngũ giáo viên chủ nhiệm. Các đề tài này cũng đã có đề Khóa luận tốt nghiệp đại học cập, đánh giá về hoạt động phối hợp của giáo viên chủ nhiệm với các lực lượng giáo dục khác.
Như vậy, các vấn đề phối hợp giữa nhà trường, giáo viên chủ nhiệm và gia đình, cha mẹ học sinh đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu trên các bậc học, phương diện. Tuy nhiên chưa có đề tài nghiên cứu sâu về quản lý hoạt động phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh trên địa bàn thành phố Đà Lạt. Vì thế, việc nghiên cứu đề tài “Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh ở một số trường trung học phổ thông thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” là cần thiết.2 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về việc tổ chức phối hợp giữa nhà trường và cha mẹ học sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì: “…Trẻ em 9 trong như tấm gương, cái tốt dễ tiếp thu, cái xấu cũng dễ tiếp thu. Nếu nhà trường dạy tốt mà gia đình dạy ngược lại, sẽ có những ảnh hưởng không tốt tới trẻ em, và kết quả cũng không tốt.
Cho nên muốn giáo dục các cháu thành người tốt, nhà trường, đoàn thể, gia đình và xã hội đều phải kết hợp chặt chẽ với nhau…” Do đó, trong hội nghị lần thứ II Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục: “…Phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước và mỗi cộng đồng, của từng gia đình và mỗi công dân. Cần kết hợp tốt giáo dục học đường với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh; người lớn làm gương cho con trẻ noi theo…” Ở Chương VI: nhà trường, gia đình và xã hội của luật Giáo dục năm 2005 cũng đã quy định sự phối hợp giữa ba môi trường, lực lượng giáo dục này. Trong đó, điều 94 quy định trách nhiệm của gia đình: “Cha mẹ hoặc người Khóa luận tốt nghiệp đại học giám hộ có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc, tạo điều kiện cho con em hoặc người được giám hộ được học tập, rèn luyện, tham gia các họat động của nhà trường. Mọi người trong gia đình có trách nhiệm xây dựng gia đình văn hoá, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ của con em; người lớn tuổi có trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục” [7].
Điều 95 quy định về quyền của cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh: “Cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh có quyền yêu cầu nhà trường cho biết kết quả học tập, rèn luyện của con em hoặc người được giám hộ; tham gia các hoạt động giáo dục theo kế hoạch của nhà trường và các hoạt động của cha mẹ học sinh trong nhà trường; yêu cầu nhà trường, cơ quan quản lý giáo dục giải quyết theo pháp luật những vấn đề có liên quan đến việc giáo dục con em hoặc người được giám hộ” [7]. 10 Ở chương VII: quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội của điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), điều 45 cũng đã quy định trách nhiệm của nhà trường: “Nhà trường phải chủ động phối hợp thường xuyên và chặt chẽ với gia đình và xã hội để xây dựng môi trường giáo dục thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục” [3], điều 47 quy định mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội: “Nhà trường phối hợp với chính quyền, đoàn thể địa phương, Ban đại diện cha mẹ học sinh, các tổ chức chính trị - xã hội và cá nhân có liên quan nhằm: Thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu giáo dục. Huy động mọi lực lượng và nguồn lực của cộng đồng chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, góp phần xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục của nhà trường; xây dựng phong trào học tập và môi Khóa luận tốt nghiệp đại học trường giáo dục lành mạnh, an toàn, ngăn chặn những hoạt động có ảnh hưởng xấu đến học sinh; tạo điều kiện để học sinh được vui chơi, hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao lành mạnh phù hợp với lứa tuổi” [3]. Ở nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo duc, y tế, văn hoá và thể dục thể thao, trong đó có định hướng về công tác giáo dục đào tạo: “Tăng cường quan hệ của nhà trường với gia đình và xã hội; huy động trí tuệ, nguồn lực của toàn ngành, toàn xã hội vào việc đổi mới nội dung, chương trình, thực hiện giáo dục toàn diện” [5].
Ngoài ra, còn có một số văn kiện của Đảng và văn bản pháp quy của Nhà nước có quy định về sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội như: Luật hôn nhân và gia đình, luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010, điều lệ ban 11 đại diện cha mẹ học sinh (Ban hành kèm theo Thông tư số 55/2011/TT- BGDĐT ngày 22/11/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)… Như vậy, có thể thấy sự phối hợp giáo dục giữa nhà trường và gia đình, xã hội được nhà nước, Đảng rất quan tâm và chú trọng.2 Khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1.