Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIÁO DỤC CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM VÀ CHA MẸ HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ngoài nước Trong các giai đoạn phát triển của lịch sử giáo dục, con người chịu sự tác động của ba môi trường giáo dục đó là giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội. Nhà giáo dục người Liên Xô E.A-rơ-kin cho rằng: “Không ai có quyền đòi hỏi người mẹ phải khước từ, dù là một phần nhỏ bé, tình yêu nồng nàn và sự âu yếm của mình đối với con cái.
Nhưng khi thể hiện lòng yêu thương tha thiết của mình đối với người mẹ phải hết sức từ tốn, dè dặt và có mức độ”. Nền giáo dục Liên Xô cũ có rất nhiều nhà giáo dục lỗi lạc như N.Krupxkai (1869-1939), nhà giáo dục-viện sĩ hàn lâm V.Xukhomlinxky (1918-1970) đã nêu lên ý nghĩa vô cùng to lớn của sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc thực hiện mục đích giáo dục HS, những người công dân trong tương lai đối với đất nước, sự hợp tác giữa cha mẹ và thầy cô không những nhằm mục đích định hướng giáo dục mà còn là động lực giúp các em có niềm tin trong quá trình học tập và rèn luyện.Xukhomlinki cho rằng nếu gia đình và nhà trường không có sự phối hợp, hợp tác để thống nhất mục đích, nội dung giáo dục sẽ dẫn đến tình trạng gia đình một đường, nhà trường một nẻo. Nhiệm vụ của nhà trường trong việc tổ chức phối hợp với gia đình là vấn đề từ lâu đã được xã hội và các nhà giáo dục rất coi trọng trong nền giáo dục cận đại.Comenxki (1592-1670) là người đầu tiên nêu ra hệ thống lí luận chặt chẽ về tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của mối quan hệ thống nhất giữa gia đình và nhà trường, đối với kết quả giáo dục trẻ J.Comenxki khẳng 10 định: “Lòng ham học ở các em cần được kích thích từ phía bố, mẹ, nhà trường, bài vở và phương pháp giảng dạy…tất cả các bậc cha mẹ, giáo viên, nhà trường, bản thân môn học, phương pháp dạy học phải thống nhất làm thức tỉnh và duy trì khát vọng học tập trong học sinh”. Sự PHGD giữa GVCN và CMHS là yếu tố góp phần giáo dục HS hình thành nhân cách đạo đức toàn diện và hướng đến sự thành đạt trong xã hội.
Các nhà giáo dục đã khẳng định sự thành công trong công tác giáo dục không thể thiếu vai trò phối hợp quan trọng này. Những nghiên cứu trong nước Ở nước ta có rất nhiều nhà nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục, đã khẳng định vai trò quan trọng trong công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình, sự PHGD giữa nhà trường và gia đình là yếu tố quan trọng hàng đầu góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong trường học nói riêng và chất lượng giáo Việt Nam nói chung. Từ thời xa xưa ông cha ta đã đề cao vai trò hợp tác chặt chẽ giữa giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình, có rất nhiều câu ca dao, tục ngữ nói nói về đạo lí uống nước nhớ nguồn, nhớ công ơn Thầy giáo, Cô giáo. Ca dao Việt Nam có câu: -“Không thầy đố mày làm nên” -“Muốn sang thì bắt cầu kiều, Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy” -“Lên non mới biết non cao Nuôi con mới biết công lao mẹ, thầy” Chủ tịch Hồ Chí Minh nhà giáo dục lớn của dân tộc Việt Nam, trong lĩnh vực giáo dục, Bác Hồ luôn quan tâm đến tầm quan trọng của việc PHGD của nhà trường và gia đình, góp phần hình thành nhân cách của HS.
Bác Hồ nói:“Phải nhất thiết liên hệ với gia đình học trò, bởi vì giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia 11 đình để cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn” (Hoàng Mai Khanh, 2011). Bác Hồ rất quan tâm đến giáo dục gia đình. Theo Bác nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Cha mẹ, ông bà trong gia đình có thể nói là những người thầy đầu tiên dạy dỗ, nuôi dưỡng tâm hồn phát triển tư duy của các em và từng bước giáo dục các em hình thành nhân cách.
Bác Hồ cho rằng trong giáo dục, nếu thiếu sự giáo dục của gia đình hoặc giáo dục gia đình không phù hợp với yêu cầu của xã hội sẽ hạn chế kết quả giáo dục. Trong bức thư Bác viết ngày 31 tháng 5 năm 1955 sau khi căn dặn thầy giáo, học sinh, cán bộ thanh niên và các cháu nhi đồng, Bác Hồ nói: “Tôi cũng mong các gia đình liên lạc chặt chẽ với nhà trường, giúp đỡ nhà trường giáo dục và khuyến khích các em chăm chỉ học tập, sinh hoạt lành mạnh và hăng hái giúp ích nhân dân”. Theo tác giả Lê Văn Diệu cho rằng cùng với nhà trường, gia đình tham gia tích cực nhiệm vụ “dạy người, dạy chữ”, tạo ra được nguồn lao động tương lai có chất lượng, không thể thiếu sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục học sinh. Với mong muốn tìm biện pháp quản lí sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục, thời gian qua một số luận văn thạc sĩ quản lí giáo dục tiến hành nghiên cứu, như đề tài: “Quản lí công tác phối hợp giữa nhà trường và cha mẹ học sinh các trường THCS vùng nông thôn thị xã Bà Rịa” (Dương Văn Thạnh, 2007); đề tài: “Quản lí sự phối hợp của giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh các trường THPT huyện Hòa Thạnh, tỉnh Tây Ninh” (Trịnh Thị Hồng Hạnh, 2015).
Từ những đề tài nghiên cứu trên, các tác giả cho chúng ta thấy tầm quan trọng của sự phối hợp giáo dục học sinh giữa GVCN với CMHS, đồng 12 thời đưa ra các giải pháp quản lí sự phối hợp giữa GVCN và CMHS, góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp giáo dục. Các khái niệm của đề tài 1. Quản lí Theo lịch sử phát triển của loài người, trong quá trình phát triển của xã hội, khi xã hội có sự phân công lao động đã xuất hiện một dạng lao động có tính chất đặc thù và có tổ chức đã điều khiển các hoạt động lao động theo yêu cầu của tổ chức, đó là hoạt động quản lí. Hiện nay có nhiều định nghĩa về quản lí khác nhau, tùy theo cách tiếp cận các đối tượng mà có nhiều khái niệm khác nhau.
Thuật ngữ “Quản lí” được sử dụng rất phổ biến và rộng rãi trong cuộc sống, trong mọi hoạt động của các tổ chức xã hội đều cần tới hoạt động quản lí. “Quản lí” là công việc cần thiết diễn ra trong mọi lĩnh vực đời sống và có liên quan đến con người. “Quản lí” theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng có nghĩa là:“Tổ chức, điều khiển hoạt động của một cơ quan, đơn vị” (Từ điển Tiếng Việt thông dụng, 1998). “Quản lí” là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người.
Thông qua hoạt động quản lí giúp cho chủ thể quản lí điều hành công việc một cách thuận lợi, hiệu quả, góp phần thành công trong công việc của mình, đạt chất lượng và năng suất cao. Theo tác giả Harold Koontz (1909 -1984), nhà giáo dục người Mỹ cho rằng: “Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lí nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Quản lí là một hệ thống mở rộng hoạt động trong môi trường và tác động qua lại với nó.
Khi áp dụng lí thuyết vào quản lí, những người quản lí 13 luôn xử lí theo điều kiện hoặc tiếp cận theo tình huống” (Harold Koontz, 1992). Theo tác giả Frederich Wiliam Taylor (1856-1915) người Mỹ nói về quản lí: “Quản lí là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất” (Harold Koontz, 1992). Frederich Wiliam Taylor và các cộng sự của ông đã đưa ra bốn nguyên tắc quản lí cơ bản là: quản lí là phải lựa chọn nhân viên một cách khoa học, cho học hành để họ phát triển hết khả năng của mình; nhà quản lí phải am hiểu khoa học như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội nhân văn, để đảm bảo bố trí lao động một cách khoa học; nhà quản lí phải cộng tác với nhân viên theo nguyên tắc khoa học; trách nhiệm và công việc được phân chia rõ ràng giữa nhà quản lí và nhân viên, nhà quản lí phải chịu trách nhiệm toàn bộ công việc của mình. Tác giả Paul Herscy và Ken Blanchard trong cuốn : “Quản lí nguồn nhân lực”thì cho rằng: “Quản lí là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lí và người bị quản lí, nhằm thông qua hoạt động cá nhân, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức”.
Tác giả Bùi Văn Quân cho rằng: “Quản lí là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lí nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động” (Bùi Văn Quân, 2007). Tác giả Dương Thị Diệu Hoa cho rằng:“Quản lí là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí lên đối tượng (khách thể) quản lí, nhằm sử dụng và phát huy hiệu quả nhất tiềm năng; các cơ hội của đối tượng để đạt 14 được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến đổi của môi trường. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lí là những hoạch định của chủ thể quản lí trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực)” (Trần Kiểm, 2011). Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt:“Quản lí là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lí một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” (Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, 1998).