CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG TRẺ EM TỪ 18 ĐẾN 36 THÁNG TUỔI TRONG CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA THEO TIẾP CẬN THAM GIA. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em Quản lý giáo dục mầm non là một bộ phận của quản lý giáo dục và quản lý xã hội. Nghiên cứu quản lý giáo dục và chăm sóc trẻ mầm non (ECEC) giúp củng cố, ổn định và phát triển với các mô hình đa dạng, linh hoạt, phù hợp với yêu cầu mới trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Việc quản lý trường mầm non có nhiều đặc điểm, đặc điểm khác với việc quản lý các loại hình trường học khác. Trường mầm non có ba nhiệm vụ quan trọng: chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng trẻ từ khi còn rất nhỏ và hầu như các em phụ thuộc vào sự chăm sóc của người lớn. Các em còn nhỏ, cơ thể còn non nớt và đang phát triển. Chúng cần được chăm sóc và nuôi dưỡng cẩn thận.
Quản lý trường mầm non có thể hiểu là việc áp dụng những nguyên tắc, khái niệm, phương pháp phổ biến nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục và chăm sóc mầm non. Quản lý trường mầm non là hành động có chủ đích của hiệu trưởng trường mầm non đối với giáo viên, nhân viên, trẻ nhỏ và phụ huynh của trẻ mầm non nhằm đạt được mục tiêu chăm sóc giáo dục mầm non theo quy định [24]. Quản lý là một thành phần quan trọng của hệ thống mầm non vì nó có thể xác định liệu dịch vụ được cung cấp có đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng, giá cả phải chăng, đáp ứng nhu cầu địa phương, thúc đẩy hiệu quả chi phí và đạt được các mục tiêu công bằng hay không. Việc quản lý có thể giúp đảm bảo việc hoạch định chính sách chặt chẽ hơn giữa các chính phủ, tổ chức và chương trình (Hodgkin & 7 Newell, 1996), tạo điều kiện cho các gia đình tham gia vào hệ thống giáo dục và chăm sóc dễ dàng hơn.
Việc quản lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp các chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ em phù hợp với nhu cầu khác nhau của các gia đình và các khu vực địa lý khác nhau [31, tr. Nếu không có hệ thống quản lý tốt và hiệu quả, một số bậc cha mẹ sẽ kết hợp nhiều hình thức giáo dục và chăm sóc trẻ với những phẩm chất khác nhau để đáp ứng nhu cầu của gia đình họ. Ngược lại, con cái của các gia đình khác có thể bị bỏ qua. Trẻ em có thể có những can thiệp học tập/phát triển không phù hợp vì phải xếp hàng chờ nhập học vào các cơ sở giáo dục chăm sóc trẻ và cha mẹ có thể gặp khó khăn trong việc tìm kiếm một dịch vụ đáng tin cậy để trẻ duy trì việc làm [25, 38, 47].
Các chuyên gia giáo dục mầm non ở Hoa Kỳ với những nghiên cứu trong hai thập kỷ qua đã cho thấy rằng trình độ chuyên môn của giáo viên ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng chăm sóc và giáo dục dành cho trẻ nhỏ [20]; [45]; [51]; [52, tr. 76-78; 64] và trình độ chuyên môn cao hơn của người chăm sóc và giáo viên mầm non góp phần vào những kết quả ngắn hạn và dài hạn tích cực hơn của trẻ [43, tr. Sự đa dạng về trình độ chuyên môn của các chuyên gia mầm non có thể ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng chăm sóc và giáo dục mà trẻ em nhận được, điều kiện làm việc của các nhân viên chuyên môn và cách nhìn nhận về các chuyên gia mầm non trong nền văn hóa, có sự chấp nhận chung rằng chương trình giảng dạy mầm non và môi trường được xây dựng vững chắc dựa trên các nguyên tắc thực hành phù hợp với sự phát triển (DAP) đảm bảo chất lượng cao cho trẻ nhỏ, và do đó, các giá trị liên quan đến DAP được coi như một triết lý [21] thâm nhập vào hầu hết các chương trình chuyên môn cho giáo dục mầm non và phát triển trẻ em từ 2 đến 4 tuổi ở Hoa Kỳ [29, tr. Trên thực tế, triết lý các nguyên tắc thực hành phù hợp với sự phát triển chính là nền tảng để xây dựng các khóa học cấp chứng chỉ của Hiệp hội Phát triển Trẻ em (CDA).
Tuy nhiên, thực tiễn phù hợp với sự phát triển vẫn có những ý kiến trái chiều. 8 Trong khi một số nhà lãnh đạo trong ngành như Charlesworth (1998) khẳng định rằng “các nguyên tắc thực hành phù hợp với sự phát triển dành cho tất cả mọi người”, nhưng cũng có những quan điểm cho rằng mặc dù nhấn mạnh vào sự phù hợp về văn hóa, các nguyên tắc thực hành phù hợp không thích hợp với tất cả trẻ em ở Hoa Kỳ. Đặc biệt, những nhà phê bình gay gắt nhất đối với DAP chỉ ra rằng đó là một triết lý được phát triển bởi những người chủ yếu là người da trắng, thuộc tầng lớp trung lưu do đó, ưu ái những đứa trẻ có cha mẹ thuộc các tầng lớp đặc quyền, duy trì vị trí quyền lực của họ trong nền văn hóa Hoa Kỳ. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời chắc chắn và có quá ít bằng chứng từ nghiên cứu về mức độ và loại hình giáo dục nào chuẩn bị đầy đủ nhất cho các nhà giáo dục mầm non làm việc trong lĩnh vực này.
Nền tảng giáo dục là một trong những yếu tố trung gian tạo nên niềm tin thời thơ ấu đã được xác định trong nghiên cứu và cần được nghiên cứu kỹ hơn vì nó có thể ảnh hưởng đến chính sách, cải cách giáo dục giáo viên và các sáng kiến vận động chính sách. Nền tảng giáo dục, trong bối cảnh này, đề cập đến cả trình độ học vấn tổng thể và loại hình khóa học hoặc nội dung được đề cập trong quá trình giáo dục. Một số nghiên cứu kết luận rằng trình độ học vấn tổng thể đạt được là yếu tố nền tảng giáo dục quan trọng nhất trong việc áp dụng triết lý các nguyên tắc thực hành phù hợp [44, tr. Trong các nghiên cứu khác, không phải trình độ mà là loại hình giáo dục quan trọng nhất, những giáo viên đã tham gia các khóa học hoặc tham gia đào tạo cụ thể để tiếp thu kiến thức và kỹ năng được cho là có liên quan đến việc làm việc hiệu quả với trẻ nhỏ được phát hiện là tham gia vào nhiều hành vi liên quan đến triết lý các nguyên tắc thực hành phù hợp hơn [35, tr.
Petitclerc và cộng sự (2017) nghiên cứu về tác động của các chính sách giảm lựa chọn kinh tế xã hội với các tổ chức cung cấp dịch vụ chăm sóc và giáo dục trẻ. Nghiên cứu này tích hợp dữ liệu từ năm nhóm trẻ em sống ở các 9 quốc gia có thu nhập cao (Anh, Hoa Kỳ, Hà Lan, Canada và Na Uy; tổng N = 21,437), so sánh tỷ lệ trẻ mầm non đi học và lựa chọn kinh tế xã hội vào chăm sóc và giáo dục trẻ trên các bối cảnh chính sách khác nhau cho giai đoạn 5 đến 9 tháng, 36 đến 41 tháng. Môi trường chính sách nơi cha mẹ được hưởng ít nhất 6 tháng nghỉ thai sản/nghỉ có lương thì số trẻ phải đi mẫu giáo trong giai đoạn đầu thấp hơn giai đoạn sau. Tỷ lệ trẻ mầm non đi mẫu giáo tương ứng với các khoản trợ cấp mầm non phổ quát (tức là, không nhắm mục tiêu vào gia đình thu nhập thấp).
Nghiên cứu cũng tập trung vào các vấn đề khác như thu nhập của các gia đình, trình độ của cha mẹ, trợ cấp của chính phủ [47]. Tại Việt Nam, nghiên cứu về quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ tại các trường mầm non trong những năm gần đây là một trong những chủ đề được các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục rất quan tâm, bởi trong bối cảnh kinh tế phát triển, đời sống người dân ngày một nâng cao, đối với mỗi phụ huynh nói riêng và xã hội nói chung đề dành nhiều sự theo dõi và tâm sức cho con em của mình, vì vậy vai trò quản lý của nhà trường cũng được chú ý nhiều hơn. Các chính sách của nhà nước cũng chỉ đưa ra các hướng rất khá cụ thể, Theo thông tư 51/2020/TT-BGDĐT về sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Chương trình giáo dục mầm non ban hành kèm theo Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ giáo dục & đào tạo đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2016/TT, việc quản lí hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở trường mầm non bao gồm các nội dung chính như lập kế hoạch, tổ chức bố trí nhân sự thực hiện kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá kết quả, như vậy để nâng cao hiệu quả bắt buộc quá trình quản lý cần phải được nâng cao hiệu quả [11, tr. Trong nghiên cứu về quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ từ 5-6 tuổi ở các trường mầm non tại Quế Võ, Bắc Ninh, nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Thơm và Đặng Thanh Huyền (2024) đã phát hiện ra những ưu và nhược điểm về quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mầm non đặc biệt 10 nhấn mạnh vai trò của nhóm quản lý nhà trường trong đó có hiệu trưởng nhà trường, ngoài các ưu điểm một số hạn chế được đề cập bao gồm vấn đề về kỹ năng của giáo viên và công tác chỉ đạo kiểm tra đánh giá của nhà trường [17, tr.
Những phát hiện nay không chỉ tồn tại ở Bắc Ninh mà là những đặc điểm thực trạng điển hình về quản lý hoạt động nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ, đây cũng là những phát hiện được tác giả Hoàng Thị Nhãn (2021), tác giả Phạm Mỹ Lệ (2019) đề cập trong nghiên cứu của tại thành phố Hồ Chí Minh [13, tr. Ngoài ra, có thể kể đến một số Luận văn Thạc sỹ nghiên cứu về vấn đề quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ như Phan Thị Hương Loan (2017) nghiên cứu quản lý hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ ở Trường mầm non công lập trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội [9], Triệu Thị Hằng (2016) với luận văn “Quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non Hoa Hồng, quận Đống Đa, Hà Nội trong bối cảnh hiện nay” [3], Ông Thị Hồng Phương (2016) với luận văn “Biện pháp quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ tại trường mầm non huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng” [14].