phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thiết kế hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi ở trƣờng mầm non. - Chƣơng 2: Thực trạng thiết kế hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi ở các trƣờng mầm non quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. - Chƣơng 3: Thiết kế và thực nghiệm hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi ở các trƣờng mầm non quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM NHẰM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƢỜNG MẦM NON 1.
Tổng quan về các công trình nghiên cứu về thiết kế hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trƣờng mầm non. Nghiên cứu về ngôn ngữ và phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi Ngôn ngữ là một hiện tƣợng xã hội đặc biệt, là sản phẩm của con ngƣời, hình thành và phát triển trong xã hội, đánh dấu bƣớc tiến hóa cao nhất của loài ngƣời. Ngôn ngữ đƣợc sử dụng làm phƣơng tiện giao tiếp cơ bản, công cụ độc đáo của hoạt động nhận thức và không thể thiếu đƣợc trong sự phát triển tâm lí, ý thức và nhân cách của con ngƣời. Bởi vậy phát triển ngôn ngữ là một đề tài nóng hổi đƣợc nhiều tác giả quan tâm.
[6] Loài ngƣời ngay từ thuở sơ khai đã sáng tạo ra ngôn ngữ, một hệ thống tín hiệu đặc biệt dùng làm phƣơng tiện cơ bản và quan trọng nhất trong giao tiếp giữa các thành viên trong cộng đồng ngƣời. Cũng từ đó ngôn ngữ đƣợc phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời. Ngôn ngữ chính là một trong những yếu tố nâng tầm cao của con ngƣời lên vƣợt xa về chất so với mọi giống loài. Ngôn ngữ là chức năng tâm lý cấp cao của con ngƣời, là công cụ để tƣ duy, để giao tiếp, là chìa khoá để con ngƣời nhận thức và chiếm lĩnh kho tàng tri thức của dân tộc và nhân loại.
Từ chỗ sinh ra chƣa có ngôn ngữ, đến cuối 6 tuổi - chỉ một khoảng thời gian rất ngắn so với cả một đời ngƣời - trẻ đã có thể sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày. Đây chính là giai đoạn phát cảm về ngôn ngữ. Ở giai đoạn này nếu không có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngôn ngữ thì sau này khó có thể phát triển tốt đƣợc. Chính vì vậy ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ của trẻ trƣớc tuổi học là vấn đề đƣợc nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nƣớc quan tâm nghiên cứu.
Vấn đề ngôn ngữ đã đƣợc đề cập đến ngay từ thời cổ đại. Nhƣng thời cổ đại ngƣời ta nghiên cứu ngôn ngữ không tách khỏi triết học và lôgíc học. Các nhà triết học cổ đại đã coi ngôn ngữ nhƣ là một hình thức biểu hiện bề ngoài của các bên trong là tinh thần, trí tuệ của con ngƣời. Trong cuốn "Bàn về phương pháp", Descartes đã chỉ ra những đặc tính chủ yếu của ngôn ngữ và lấy đó làm tiêu chí phân biệt con ngƣời, khác với động vật.
Ông đã nhấn mạnh tính chất của ngôn ngữ, cái tín hiệu duy nhất chắc chắn là của một tƣ duy tiềm tàng trong cơ thể và kết luận rằng "Có thể lấy ngôn ngữ làm chỗ khác nhau thực sự giữa con người và con vật". 7 Chỉ đến giữa thế kỷ 19 khuynh hƣớng tâm lý học mới nảy sinh trong ngôn ngữ học. Ngƣời đầu tiên sáng lập ra trƣờng phái ngôn ngữ học tâm lý là Shteintal (1823 - 1899). Ông đã đƣa ra học thuyết ngôn ngữ là sự hoạt động của cá nhân và sự phản ánh tâm lý dân tộc.
Theo ông, ngôn ngữ học phải dùa vào tâm lý cá nhân trong khi nghiên cứu ngôn ngữ cá nhân, phải dựa vào tâm lý dân tộc trong khi nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc.Vygotxki[9] trong cuốn: "Tư duy và ngôn ngữ" đã lập luận rằng hoạt động tinh thần của con ngƣời chính là kết quả học tập mang tính xã hội chứ không phải là một học tập chỉ là của cá thể. Theo ông, khi trẻ em gặp phải những khó khăn trong cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác của ngƣời lớn và bạn bè có năng lực cao hơn, những ngƣời này giúp đỡ trẻ và khuyến khích trẻ. Trong mối quan hệ hợp tác này, quá trình tƣ duy trong một xã hội nhất định đƣợc chuyển giao sang trẻ. Do ngôn ngữ là phƣơng thức đầu tiên mà qua đó, con ngƣời trao đổi các giá trị xã hội, L.
Vƣgotxki coi ngôn ngữ là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của tƣ duy.Leusina đã tiến hành nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc của trẻ mẫu giáo và đi đến kết luận: Không phải là từ mà là câu và ngôn ngữ mạch lạc là đơn vị của ngôn ngữ nhƣ một phƣơng tiện giao tiếp. Trẻ càng lớn tính hoàn cảnh của ngôn ngữ càng giảm dần chuyển sang hình thức nói mạch lạc gắn chặt với sự lĩnh hội của vốn từ, lĩnh hội hệ thống ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ.Rubinxtêin cho rằng: Điều cơ bản trong phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ là chỉnh sửa và hoàn thiện kỹ năng sử dụng lời nói nhƣ một phƣơng tiện giao tiếp… Phát triển vốn từ cũng nhƣ việc nắm vững các hình thức ngữ pháp đã ảnh hƣởng đến lời nói mạch lạc ở từng thời điểm nhất định.Tikhêêva đã đề ra phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách hệ thống, trong đó bà nhấn mạnh cần dựa trên cơ sở tổ chức cho trẻ tìm hiểu thế giới thiên nhiên xung quanh trẻ, dạo chơi, xem tranh, kể chuyện cho trẻ nghe… Bà đƣa ra các biện pháp cụ thể để phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ Mẫu giáo nhƣ: nói chuyện với các em, giao nhiệm vụ cho các em, đàm thoại, kể chuyện, đọc chuyện, thƣ từ, học thuộc lòng thơ ca. Những tƣ tƣởng này đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với việc giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non.[dẫn theo 7] Việc nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non (0 - 6 tuổi) cũng đƣợc rất nhiều tác giả trong nƣớc quan tâm và tiếp cận sâu ở từng góc độ khác nhau trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Vốn từ, khả năng hiểu từ, ngữ pháp… của trẻ em ở các độ tuổi khác nhau có các công trình nghiên cứu của Dƣơng Diệu Hoa (1985), Nguyễn Minh Huệ (1989), Hồ Minh Tâm (1989) v.v… Chẳng hạn Lƣu Thị Lan (1996) trong công trình nghiên cứu "Những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em từ 1 - 6 tuổi" [7] đã chỉ rõ các bƣớc phát triển về ngữ âm của trẻ em Việt nam bắt đầu từ giai đoạn tiền ngôn ngữ (0 - 1 8 tuổi) giai đoạn ngôn ngữ (1 - 6 tuổi), về mặt ngữ âm có những bƣớc tiến dài đặc biệt là giai đoạn 4 - 6 tuổi.
Các bƣớc phát triển về từ vựng đƣợc tác giả thống kê từng lứa tuổi với số lƣợng từ tối thiểu và số lƣợng từ tối đa. Từ 18 tháng tuổi trở đi trẻ có sự nhảy vọt về số lƣợng từ và yếu tố văn hoá, xã hội ảnh hƣởng trực tiếp đến sự phát triển vốn từ của trẻ. Các bƣớc phát triển về ngữ pháp trong ngôn ngữ của trẻ em Việt Nam đƣợc tác giả nghiên cứu rất cụ thể từng lứa tuổi với loại câu đơn, câu phức, các loại câu phức nhƣ câu phức chính phụ, câu phức đẳng lập. Câu phức chính phụ xuất hiện muộn và có số lƣợng ít hơn.
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn "Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo" đã đƣa ra một số biện pháp hƣớng dẫn trẻ kể chuyện nhằm phát triển lời nói độc thoại cho trẻ gồm: kể lại chuyện, kể chuyện theo tri giác, kể chuyện theo trí nhớ và kể chuyện theo tƣởng tƣợng.[6] Tác giả Lƣu Thị Lan đề cập đến biện pháp phát triển ngôn ngữ đối với trẻ 4 – 6 tuổi, theo tác giả để phát triển vốn từ cần tổ chức cho trẻ quan sát sự vật hiện tƣợng và đàm thoại, cùng với trẻ phân tích sự vật hiện tƣợng để giúp trẻ nhận thức mối quan hệ giữa các sự vật hiện tƣợng. Cho trẻ nghe thơ, truyện, chơi một số trò chơi nhƣ đoán vật qua tiếng kêu, kể tên các con vật em biết, trò chơi nối từ, nói từ tiếp theo, chơi đóng vai theo chủ đề, kể chuyện theo tranh… Tác giả cũng đã nêu các biện pháp sửa ngọng cho trẻ rất đơn giản chỉ cần luyện tập một số buổi là trẻ có thể nhận thức đƣợc cách phát âm đúng, cần căn cứ vào thời gian bị ngọng để định hình lại cách phát âm chuẩn đòi hỏi ngắn hay dài và sự có mặt của cha mẹ trẻ trong các buổi tập là cần thiết để từ đó họ có thể hƣớng dẫn cho trẻ luyện tập pháp âm khi trẻ ở nhà. Nhìn chung vấn đề ngôn ngữ trẻ em đƣợc các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều mặt, nhiều lứa tuổi khác nhau. Có nghiên cứu về cấu trúc đặc biệt của ngôn ngữ, có nghiên cứu về yếu tố ảnh hƣởng tác động đến quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ, một số nghiên cứu khác lại nghiên cứu biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ… Tuy nhiên, ở Việt Nam các công trình nghiên cứu mới tập trung nhiều vào lứa tuổi nhà trẻ, ít đi sâu vào nghiên cứu ngôn ngữ của lứa tuổi 5 - 6 tuổi.
Trong các công trình nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ 5 - 6 tuổi chủ yếu đi sâu nghiên cứu vào một mặt của sự phát triển ngôn ngữ nhƣ hiểu từ hoặc ngôn ngữ mạch lạc… Trong ngôn ngữ mạch lạc thì lại chủ yếu đi vào nghiên cứu biện pháp hình thành và phát triển ngôn ngữ mạch lạc. Nhiều ngƣời rất quan tâm đến việc chuẩn bị cho trẻ Mẫu giáo học đọc và viết ở lớp 1 (Tức là quan tâm đến làm quen với chữ cái của trẻ 5 tuổi). Nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm cho trẻ mầm non Việc tổ chức HĐTN cho trẻ mầm non cũng đã thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc. Các công trình nghiên cứu đã khẳng định 9 vai trò to lớn của HĐTN đối với sự phát triển toàn diện của trẻ.
Học tập trải nghiệm vốn dĩ không phải là một khái niệm mới lạ. Từ những năm 50 (trƣớc Công nguyên), Aristotle đã từng cho rằng, đa số những gì con ngƣời học đƣợc là nhờ trực tiếp tƣơng tác với chúng.