CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Tác giả Kak-Hai-Nodich,Người Đức đáng yêu của ngôn ngữ của trẻ có vai trò quan trọng và quá trình phát triển ngôn ngữ ở từng giai đoạn. Trong mỗi giai đoạn, nhiệm vụ của người lớn là giúp trẻ thâm nhập vào thế giới ngôn ngữ phong phú và đa dạng, dẫn dắt trẻ từ những âm thanh “ gừ, gừ” hỏi chuỗi sơ sinh đến sử dụng, ngôn ngữ thành thạo, điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển KNGT và trí tuệ của trẻ.
Trẻ sơ sinh chưa có ngôn ngữ chưa biết cách giao tiếp ,các bậc phụ huynh cần phải bắt đầu công việc can thiệp như: luyện âm, luyện giọng, luyện hơi sau đó đến luyện nói. Những ví dụ, cách làm cụ thể, thiết thực tác giả đã giúp các bậc phụ huynh có con ở giai đoạn lứa tuổi này có thêm những kiến thức cơ bản trong việc giáo dục và dạy dỗ trẻ giúp trẻ phát triển KNGT. [39] Trong cuốn sách văn hoá nhân cách B.Xocolov viết: “Giao tiếp là sự tác động lẫn nhau giữa những con người và giữa những động vật có tâm lý giống nhau”. Các tác giả có xu hướng coi giao tiếp là một hiện tượng tâm lý có chung cả ở người và động vật.
Quan điểm này cho thấy, quá trình giao tiếp phản ánh phần nào mối quan hệ giữa con người với sự giao tiếp với động vật mà trong đó, tâm lý người cũng hình thành và phát triển nhờ mối quan hệ giữa con người với những động vật nuôi trong nhà. Hướng tiếp cận này có những hạn chế là không thấy được sự khác nhau cơ bản giữa con người và con vật, giữa giao tiếp của con người với con người và cái gọi là “giao tiếp” của con vật.Họ không đánh giá đúng mức vai trò của giáo dục và văn hóa đối với sự hình thành, phát triển tâm lý, kỹ năng giao tiếp ở mỗi cá nhân. Theo hướng nghiên cứu giao tiếp với nhân cách có công trình “Nhân cách trong cấu trúc giao tiếp sư phạm” (1980) của Pơlot Nicova[46], “Những trở ngại tâm lý trong giao tiếp giữa các nhân cách” (1985) của Sakanova. [47] Các tác giả trên đã chỉ ra vai trò quan trọng của giao tiếp đối với sự hình thành nhân cách của mỗi con người, trong đó chỉ có sự giao tiếp giữa con người với con người trong xã hội mới có thể giúp con người trưởng thành về mặt nhận thức, tình cảm và các yếu tố liên quan đến sự định hình các năng lực, giá trị của mỗi chủ thể trong quá trình giao tiếp ấy tiếp cận rất hiện đại.
Theo quan điểm từ các nhà nghiên cứu giao tiếp theo nhiều hướng khác nhau. Theo hướng nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về giao như bản chất, cấu trúc, 9 cơ chế, phương pháp luận nghiên cứu giao tiếp, mối liên hệ giữa giao tiếp. Hướng nghiên cứu này được thể hiện trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô: “Về bản chất giao tiếp người” (1973) của Xacopnhin[48], “Tâm lý học về các mối quan hệ qua lại trong nhóm nhỏ” (1976) của I.Platonov[45], “Phạm trù giao Từ những công trình nghiên cứu nước ngoài bài tập trung về những vấn đề lý luận về giao tiếp kỹ năng giao tiếp thì chúng ta nhận thấy rằng việc giúp cho trẻ mầm non hình thành kỹ năng giao tiếp rất quan trọng. Chính vì chuẩn bị sự hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non hết sức cần thiết và cấp bách để giúp trẻ phát triển nhân cách một cách toàn diện nhất.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề giao tiếp với nhiều khía cạnh khác nhau về: bản chất, vai trò, vị trí của giao tiếp trong sự hình thành nhân cách cách như “Các Mác và phạm trù giao tiếp” (1963) của Đỗ Long [25], “giao tiếp, tâm lý, nhân cách” (1981), “giao tiếp và sự phát triển nhân cách của trẻ” (1981), “bàn về phạm trù giao tiếp” của Bùi Văn Huệ [20]. Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ánh Tuyết [35], nghiên cứu khía cạnh tâm lý giao tiếp của trẻ em, vấn đề đặc điểm giao tiếp hình thành các nhu cầu và kỹ năng giao tiếp ở trẻ được phản ánh. Qua đó ta thấy được vai trò của việc hình thành kỹ năng giao tiếp trong TMN; kỹ năng sư phạm và ứng xử của giáo viên đối với trẻ; đặc điểm giao tiếp của trẻ; việc hình thành tích cực giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi. Tác giả Nguyễn Quang Uẩn nhấn mạnh: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau hay nói cách khác đi giao tiếp là quá trình xác lập và vận hành mối quan hệ người - người, hiện thực hóa các mối quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác” [36] Bên cạnh đó, một số luận án, luận văn nghiên cứu về giao tiếp và các vấn đề liên quan như: luận án tiến sĩ tâm lý học giáo dục “một số đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo trong nhóm chơi không cùng độ tuổi” Lê Xuân Hồng (1996) đã hệ thống các lý luận về giao tiếp của trẻ, nghiên cứu việc tổ chức chơi và những hình ảnh tác động qua lại giữa trẻ trong nhóm chơi không cùng độ tuổi ở mẫu giáo [18].
Luận án tiến sĩ “những khó khăn tâm lý trong giao tiếp Sư phạm” (1997) của Nguyễn Thanh Bình đã khẳng định giao tiếp Sư phạm là một giao tiếp nghề nghiệp giữa giáo viên và học sinh cần có sự tiếp xúc tâm lý, xây dựng bầu không khí thuận lợi nhằm tạo kết quả tối ưu trong hoạt động dạy và hoạt động học [9]. Luận án Tiến Sĩ tâm lý học“ kỹ năng 10 giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi Tỉnh Tuyên Quang qua trò chơi đóng vai theo chủ đề”(2016) của Phạm Thị Thu Thủy đã khẳng định được việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ mầm non thông qua hoạt động trò chơi đóng vai theo chủ đề [32]. Tiến sĩ Hoàng Thị Phương “Nghiên cứu về hành vi giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi” [29]. Trân Trọng Thủy “Giao tiếp và sự phát triển nhân cách của trẻ” [31], Ngô Công Hoan “ giao tiếp và ứng xử giữa cô giáo với trẻ” [16] Như vậy, qua một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, chúng ta có thể khẳng định được sự cần thiết của việc tổ chức hoạt động hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi.
Các khái niệm chính 1.1 Hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non. Kỹ năng giao tiếp của trẻ 5- 6 tuổi *Kỹ năng Trong lịch sử nghiên cứu các vấn đề về kỹ năng, có nhiều tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra những quan niệm khác nhau về kỹ năng. Có hai khuynh hướng cơ bản sau: Khuynh hướng thứ nhất: xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của thao tác, của hành động hay hoạt động.Kruchetxki cho rằng “Kỹ năng là phương thức thực hiện hoạt động – những cái mà con người đã nắm vững” .Theo ông chỉ cần nắm vững phương thức hành động là con người đã có kỹ năng, không cần đến kết quả của hành động [41] Khuynh hướng thứ hai: xem xét kỹ năng nghiêng về mặt năng lực hành động của con người. Theo quan niệm này, kỹ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt, sáng tạo và có mục đích.
Đại diện cho khuynh hướng này có các tác giả như : Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành… Quan niệm “kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hành động phức tạp bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” Nguyễn Thanh Bình[9]. Theo ông, người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả. Tác giả Huỳnh Văn Sơn (2009) quan niệm “kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép. Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động mà còn là biểu hiện năng lực của con người”.
[30] Từ những khái niệm kỹ năng nêu trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm kỹ năng: 11 “Kỹ năng là khả năng của con người vận dụng một cách có hiệu quả những tri thức, kinh nghiệm đã có phù hợp với những điều kiện nhất định để đạt được mục đích của mình”. * Giao tiếp Có rất nhiều những khái niệm về giao tiếp: + David K.Berlo định nghĩa “Giao tiếp của con người là một quá trình có chủ định hay không có chủ định, có ý thức hay không có ý thức mà trong đó các cảm xúc và tư tưởng được diễn đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ. Giao tiếp của con người diễn ra ở các mức độ: trong con người, giữa con người với con người và cộng đồng. Giao tiếp của con người là một quá trình năng động, bất thuận nghịch, tác động qua lại và có tính chất ngữ cảnh” [14] + Hai tác giả Trần Trọng Thủy, Nguyễn Sinh Huy coi : “Giao tiếp của con người là một quá trình có chỉ định hay không chỉ định , có ý thức hay không có ý thức và trong đó có các cảm xúc và tư tưởng được biểu đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ”.
Trong định nghĩa này tác giả không chỉ đề cập đến đối tượng dùng để giao tiếp mà còn nêu lên cả phương tiện giao tiếp để tiến hành giao tiếp. Với định nghĩa này thì ngay cả khi trẻ không có ý thức (trẻ thiểu năng, bị hội chứng down) hay trẻ chưa có ý thức (trẻ dưới 3 tuổi) vẫn có thể tham gia vào quá trình giao tiếp[31].