Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án Vấn đề kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạm được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất lâu, cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, đó chính là cơ sở để chúng tôi thực hiện đề tài của luận án. Khi tổng quan về các vấn đề liên quan đến luận án, chúng tôi tiến hành hệ thống và luận giải theo ba nội dung: Các công trình nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp trên thế giới và ở Việt Nam; các công trình nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp sư phạm trên thế giới và ở Việt Nam. Các nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp 1. Các nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp của các tác giả nước ngoài Vấn đề giao tiếp đã được các tác giả phương Tây và Liên xô cũ đề cập đến từ khá lâu.
Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XIX, vấn đề kỹ năng giao tiếp mới thực sự được các nhà tâm lý học quan tâm, đặc biệt từ giữa thế kỷ XX, tức là từ khi ngành điều khiển học ra đời. Theo đó, có thể thấy, kỹ năng giao tiếp được nghiên cứu theo nhiều hướng khác nhau, cụ thể: Nghiên cứu mặt kỹ thuật của kỹ năng giao tiếp Các tác giả theo nghiên cứu này đã xem xét kỹ năng giao tiếp trong hoạt động, chủ yếu hướng vào mặt kỹ thuật của hành động. Đại diện cho các nghiên cứu theo hướng này phải kể đến: Kovaliov A. Các tác giả đều có quan điểm chung rằng kỹ năng là những phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm vững.
Vì vậy, khi thực hiện hành động giao tiếp, con người phải có những tri thức về hành động đó, nghĩa là phải hiểu được mục đích giao tiếp là gì, cách thức thực hiện, phương tiện giao tiếp, điều kiện hành động và sử dụng một cách hợp lý vào các tình huống giao tiếp. Chẳng hạn, Gonobolin Ph.N cho rằng: Kỹ năng là những phương thức tương đối hoàn chỉnh của việc thực hiện những hành động bất kỳ nào đó. Các 13 hành động này được hình thành trên cơ sở các tri thức và kỹ xảo – những cái được con người lĩnh hội trong quá trình hoạt động [40, tr.A cho rằng: Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động – cái mà con người lĩnh hội được [22]. Tác giả cũng chỉ ra rằng, trong một số trường hợp thì kỹ năng là phương thức sử dụng các tri thức vào trong thực hành.
Tức là khi có tri thức, con người cần phải áp dụng và sử dụng chúng trong thực tiễn cuộc sống. Trong quá trình luyện tập, trong hoạt động thực hành, kỹ năng trở nên được hoàn thiện và trong mối quan hệ đó, hoạt động của con người cũng trở nên hoàn thiện hơn.M cho rằng: Kỹ năng giao tiếp là kỹ thuật, trình độ truyền đạt và tiếp nhận thông tin nhằm thực hiện quá trình truyền đạt thông tin [dẫn theo 71, tr. Với quan niệm này, các tác giả đã đề cao yếu tố truyền đạt thông tin trong quá trình đánh giá kỹ năng giao tiếp, bỏ qua yếu tố khác như xử lý thông tin, các yếu tố gây nhiễu và khả năng sử dụng các phương tiện giao tiếp trong những điều kiện hoạt động cụ thể. Đó cũng chính là điểm hạn chế của quan niệm này.
Như vậy, hướng nghiên cứu này của các tác giả đã cho thấy phương thức, thủ thuật, thao tác thực hiện hành động giao tiếp là những yếu tố thể hiện rõ kỹ năng trong quá trình giao tiếp. Chúng tôi đã tiếp nhận, vận dụng theo hướng nghiên cứu này làm một trong những cơ sở để tiến hành xây dựng nội dung luận án. Tuy nhiên, chúng tôi cũng khẳng định rằng, kỹ năng giao tiếp không chỉ là những thao tác kỹ thuật hành vi đơn thuần, mà nó còn chứa đựng cả các yếu tố khác mới có tính thuyết phục. Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp như là năng lực của cá nhân Các tác giả theo hướng nghiên cứu này cho rằng kỹ năng là năng lực của con người giúp họ thực hiện một hoạt động có hiệu quả trong điều kiện mới.
Đại diện là Petrovski A.[dẫn theo 120, tr.V cho rằng: Kỹ năng giao tiếp cũng như các kỹ năng khác, có hai mức độ, đó là kỹ năng sơ đẳng và kỹ năng thành thạo. Kỹ năng sơ đẳng ban đầu là những hành động – cái được hình thành trên cơ sở của các tri thức hay là kết quả của sự bắt chước. Còn kỹ năng thành thạo được hình thành trên cơ sở của các tri thức và kỹ xảo – những cái đã được lĩnh hội trước. L khi nghiên cứu về giao tiếp trong lĩnh vực hành chính và kinh doanh diễn ra dưới nhiều hình thức như giao tiếp trực tiếp mặt đối mặt, điện thoại, email.đòi hỏi người nhân viên phải có những kỹ năng giao tiếp, tương ứng để giao tiếp với cán bộ quản lý trực tiếp, khách hành đến làm việc, đồng nghiệp và các nhóm khác có quan hệ về mặt lợi ích [dẫn theo 71, tr.
Tác giả nhấn mạnh đến các kỹ năng giao tiếp như: kỹ năng lắng nghe, kỹ năng viết, kỹ năng trình bày là các kỹ năng có liên quan chặt chẽ đến kết quả hoạt động của lĩnh vực này. Như vậy, tác giả đã xem xét kỹ năng như là một biểu hiện năng lực của cá nhân, có ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả của hoạt động.J cho rằng, kỹ năng là những hành vi được thể hiện ra bên ngoài và chịu sự chi phối bởi cách thức con người cảm nhận và suy nghĩ [142, tr. Như vậy, tác giả đã xem xét kỹ năng không chỉ là biểu hiện của năng lực mà còn cả thái độ và động cơ của cá nhân gửi vào trong đó. Cũng theo hướng này, tác giả Gudykunst W.
(1997) coi kỹ năng giao tiếp là năng lực của cá nhân trong việc thực hiện các hành vi giao tiếp một cách phù hợp và có hiệu quả. Trên cơ sở đó, tác giả cũng đề cao 4 kỹ năng giao tiếp cần có để giao tiếp có hiệu quả và thành công là: biết quan tâm đến đối tượng giao tiếp, biết đồng cảm, biết thích ứng, biết đưa ra những phán đoán chính xác. Như vậy, theo các tác giả trên thì, kỹ năng giao tiếp không chỉ là mặt kỹ năng thao tác đơn thuần, mà còn liên qua tới kết quả đạt được của quá trình giao tiếp. Vì vậy, một cá nhân được coi là có kỹ năng giao tiếp khi họ có năng lực nhất định, biết vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào quá trình giao tiếp đạt kết quả theo mục đích đã đề ra.
Theo đó, kỹ năng giao tiếp vừa có tính ổn 15 định, mềm dẻo lại linh hoạt và có tính mục đích. Tính ổn định ở đây phải thể hiện ở khả năng thường xuyên giao tiếp tốt trong mọi hoàn cảnh khác nhau, mọi thời gian, không gian khác nhau. Bên cạnh đó, người có kỹ năng giao tiếp tốt không phải lúc nào cũng có thái độ, cử chỉ, cách nói năng giống nhau trong mọi hoàn cảnh, tình huống, mà ở họ luôn có sự thay đổi mềm dẻo cho phù hợp. Tính mềm dẻ là sự linh hoạt, nhạy cảm, biết điều chỉnh thái độ, hành vi cho phù hợp với mọi hoàn cảnh, tình huống, đối tượng giao tiếp đạt mục đích giao tiếp đề ra.
Nghiên cứu quá trình hình thành của kỹ năng giao tiếp Đại diện cho hướng nghiên cứu này là các nhà tâm lý học mác xít, họ khẳng định kỹ năng hoạt động không phải hình thành và phát triển theo cơ chế di truyền sinh vật, mà theo cơ chế lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội lịch sử. Quá trình hình thành, phát triển kỹ năng giao tiếp cũng là kết quả của quá trình con người lĩnh hội tri thức, vận dụng chúng vào những điều kiện, hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp khác nhau để có thể đạt được mục đích giao tiếp đã đề ra. Tiêu biểu cho quan điểm này là Leonchiev A.A, dựa trên các nghiên cứu của mình, tác giả đã soạn các bài tập luyện kỹ năng định hướng tiền giao tiếp, luyện kỹ năng tiếp xúc, luyện kỹ năng giao tiếp [dẫn theo 29, tr. cho rằng, ban đầu kỹ năng mới chỉ là các thao tác riêng lẻ đơn giản, chưa được hoàn thiện, quá trình rèn luyện chúng trở thành hành động nhanh chóng, chính xác và sau đó trở thành kỹ năng, kỹ xảo.
Tác giả Anderson lại phân biệt 3 giai đoạn tiếp thu kỹ năng, đó là: Giai đoạn nhận thức (người học tìm cách hiểu thật rõ nhiệm vụ đặt ra và những thông tin); giai đoạn liên tưởng (những thông tin, thành phần nhận thức và vận động cần thiết cho sự vận hành của một kỹ năng được kết hợp với nhau theo đặc điểm hoạt động, kỹ năng dần dần được hình thành; giai đoạn tự lập (kỹ năng ngày càng được tự động hóa nhiều hơn, nhanh chóng và chính xác hơn, giảm bớt sự chú ý [dẫn theo 120, tr.G (1963), kỹ năng giao tiếp được hình thành và phát triển qua 5 giai đoạn: - Giai đoạn 1: Con người ý thức được mục đích hành động và tìm kiếm cách thức thực hiện hành động dựa trên vốn hiểu biết và kỹ xảo sinh hoạt đời thường, hành động bằng thử và sai. - Giai đoạn 2: Biết cách làm nhưng không đầy đủ. Con người có hiểu biết về phương thức hành động, sử dụng các kỹ xảo đã có, nhưng chưa phải là kỹ xảo chuyên biệt dành cho hoạt động này. - Giai đoạn 3: Có những kỹ năng chung nhưng còn mang tính chất độc lập.
Các kỹ năng này cần thiết cho các dạng hoạt động khác nhau. - Giai đoạn 4: Có kỹ năng phát triển cao, con người biết sử dụng vốn hiểu biết và kỹ xảo đã có. Họ không chỉ ý thức được mục đích mà còn ý thức được động cơ, lựa chọn cách thức để đạt được mục đích. - Giai đoạn 5: Hình thành kỹ năng khác nhau.
Có nghĩa là con người không chỉ sử dụng các kỹ năng đã được hình thành ở mức độ thuần thục, điêu luyện mà còn sáng tạo trong khi thực hiện [dẫn theo 85, tr. L cho rằng, kỹ năng giao tiếp chính là chìa khóa cho việc xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa con người với con người, người có kỹ năng giao tiếp là người luôn duy trì được trạng thái ưu thế trong bất kỳ tình huống giao tiếp nào, tức là luôn đảm bảo được sự thảo mãn giữa tất cả các bên tham gia giao tiếp.