Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tâm lý học (mã số: 931 04 01) với đề tài "Kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo" do nghiên cứu sinh Vũ Thúy Hoàn thực hiện tại Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Văn Tuân và PGS.TS. Trương Thị Khánh Hà.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Lao động sư phạm của người giáo viên mầm non hướng tới việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ từ 3 tháng đến 72 tháng tuổi, đóng vai trò nền tảng ban đầu trong việc hình thành nhân cách trẻ. Giao tiếp sư phạm là phương tiện nghề nghiệp quan trọng giúp giáo viên thiết lập quan hệ, thấu hiểu đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và truyền thụ tri thức tiền khoa học. Tuy nhiên, qua khảo sát sơ bộ của tác giả, phần lớn giáo viên mầm non (26/30 người) chưa chú ý rèn luyện kỹ năng này, còn xem nhẹ vai trò của giao tiếp sư phạm và chỉ tập trung vào kiến thức chuyên môn hoặc chăm sóc thể chất thuần túy.
Về phía đối tượng tác động, trẻ mẫu giáo (3–6 tuổi, bao gồm ba lứa tuổi: mẫu giáo bé 3–4 tuổi, mẫu giáo nhỡ 4–5 tuổi, mẫu giáo lớn 5–6 tuổi) có đặc điểm tâm lý đặc thù: ngôn ngữ nói chưa hoàn thiện, tư duy trực quan hành động chiếm ưu thế, đời sống tình cảm chi phối toàn bộ hoạt động tâm lý; riêng trẻ mẫu giáo bé đang trải qua giai đoạn khủng hoảng tâm lý với mâu thuẫn giữa nhu cầu tự lập và khả năng thực tế còn hạn chế. Các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam, tiêu biểu là công trình của Nguyễn Minh Ngọc (2017), mới chỉ tiếp cận kỹ năng giao tiếp thông thường của giáo viên với trẻ mẫu giáo lớn (5–6 tuổi). Đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn đối với kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với toàn bộ các độ tuổi mẫu giáo (3–6 tuổi).
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo, từ đó đề xuất các biện pháp tâm lý – sư phạm nhằm nâng cao kỹ năng này cho giáo viên. Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo.
- Đề xuất biện pháp tâm lý – sư phạm nâng cao kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo.
- Tổ chức thực nghiệm tác động nâng cao kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện, mức độ và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo.
- Khách thể nghiên cứu: Giáo viên mầm non trực tiếp chăm sóc giáo dục trẻ tại các lớp mẫu giáo; trẻ mẫu giáo bé, mẫu giáo nhỡ, mẫu giáo lớn; cán bộ quản lý trường mầm non.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu biểu hiện, mức độ kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo thông qua "hoạt động học" tại trường mầm non và các yếu tố ảnh hưởng.
- Về khách thể: Giáo viên mầm non, trẻ mẫu giáo và cán bộ quản lý tại các trường mầm non công lập.
- Về địa bàn: Triển khai nghiên cứu trên 10 trường mầm non công lập thuộc hai địa phương: Tỉnh Thái Nguyên (gồm 5 trường: Mầm non 19/5, Mầm non Hợp Thành, Mầm non Phấn Mễ, Mầm non Động Đạt, Mầm non Thị trấn Đu) và Thành phố Hà Nội (gồm 5 trường: Mầm non Trung Văn, Mầm non Đại Mỗ B, Mầm non Bạch Đằng, Mẫu giáo Số 9, Mẫu giáo Việt – Triều Hữu nghị).
- Về thời gian: Quá trình nghiên cứu được tiến hành từ năm 2014 đến năm 2017.
Giả thuyết khoa học
Kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo hiện nay ở mức trung bình và có sự không đồng đều giữa 3 nhóm kỹ năng (trong đó kỹ năng thiết lập mối quan hệ với trẻ đạt mức thấp nhất, nhóm kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp đạt mức cao nhất). Kỹ năng này chịu sự chi phối của các yếu tố chủ quan (nhận thức, lòng yêu nghề mến trẻ, kinh nghiệm nghề nghiệp) và khách quan (đặc điểm tâm lý trẻ, môi trường và điều kiện làm việc). Nếu có các biện pháp tác động tích cực thông qua tập huấn, bồi dưỡng phù hợp thì kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên sẽ được cải thiện và nâng cao.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu theo hai trục nội dung lớn: các công trình về kỹ năng giao tiếp và các công trình về kỹ năng giao tiếp sư phạm trên thế giới và tại Việt Nam.
Hướng nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp
- Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp dưới góc độ kỹ thuật hành động: Các tác giả như A.G. Kovaliov, V.A. Cruchetxki, Ph.N. Gonobolin, P.A. Rudik, D.M. James xem kỹ năng là phương thức thực hiện hành động dựa trên tri thức đã lĩnh hội để thực hiện việc truyền đạt và tiếp nhận thông tin.
- Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp như là năng lực cá nhân: A.V. Petrovski, P.V. Lewis, N.J. Richard, W.B. Gudykunst (1997) nhìn nhận kỹ năng giao tiếp là năng lực thực hiện hành vi phù hợp và hiệu quả, gắn liền với khả năng lắng nghe, thấu cảm, thích ứng và đưa ra phán đoán chính xác.
- Nghiên cứu quá trình hình thành kỹ năng: A.A. Leonchiev, Anderson, K.K. Platonov, S.I. Kixegov, K.G. (1963), R.L. Bolton nghiên cứu sự chuyển hóa từ tri thức sang thao tác qua các giai đoạn rèn luyện.
- Các nghiên cứu trong nước: Nguyễn Văn Lũy, Nguyễn Bá Minh, Trần Quốc Thành, Phạm Tất Dong, Trần Trọng Thủy, Hoàng Anh, Trần Thị Thanh Hà, Nhữ Văn Thao, Nguyễn Thị Quy đã nghiên cứu kỹ năng giao tiếp trong các lĩnh vực chuyên biệt như hoạt động Đội, công tác phụ nữ, chính trị viên quân đội, cảnh sát giao thông.
Hướng nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp sư phạm và giáo viên mầm non
- Trên thế giới: P. Dakharop, S.T. Elkanov, Ph.M. Rakhmatylina, V.A. Kan-Kalik, A.A. Bodalov đã phân loại cấu trúc giao tiếp sư phạm qua các giai đoạn định hướng, tiếp xúc và điều khiển. Các nghiên cứu ứng dụng trên đối tượng giáo viên và giáo sinh mầm non bao gồm: Fulya Yuksel-Sahin nghiên cứu mức độ kỹ năng giao tiếp của giáo sinh Thổ Nhĩ Kỳ gắn với lắng nghe tích cực, sử dụng thông điệp cá nhân ("I" messages) và tự bộc lộ bản thân (self-disclosure); Emel Arslan chứng minh mối tương quan thuận giữa kỹ năng giao tiếp và khả năng giải quyết vấn đề liên cá nhân; Nicole R.W nghiên cứu cách ứng xử với các hành vi bất thường trong lớp học; Rebecca B.M nghiên cứu tác động của giáo viên đối với giao tiếp tiền ngôn ngữ của trẻ.
- Tại Việt Nam: Hoàng Anh, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Thạc, Đinh Văn Vang, Lê Minh Nguyệt, Dương Diệu Hoa, Lê Thị Bừng, Nguyễn Đình Chỉnh, Trần Hữu Luyến, Trần Ngọc Diễm đã nghiên cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên và sinh viên sư phạm. Năm 2017, Nguyễn Minh Ngọc bảo vệ luận án về kỹ năng giao tiếp của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo lớn tại 8 trường ở Hà Nội, tập trung vào 3 kỹ năng: lắng nghe, tự chủ cảm xúc và sử dụng phương tiện giao tiếp.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Luận án chỉ rõ công trình của Nguyễn Minh Ngọc (2017) mới dừng ở việc xem xét kỹ năng giao tiếp nói chung (chưa đi sâu vào bản chất kỹ năng giao tiếp sư phạm), chỉ khảo sát trên nhóm trẻ mẫu giáo lớn (5–6 tuổi), bỏ qua phương tiện giao tiếp đặc thù là đồ dùng, đồ chơi, và chỉ khảo sát trên địa bàn Hà Nội. Luận án của Vũ Thúy Hoàn tập trung giải quyết trọn vẹn khoảng trống này bằng cách: nghiên cứu bản chất giao tiếp sư phạm mầm non; mở rộng ra toàn bộ độ tuổi mẫu giáo (3–6 tuổi gồm cả mẫu giáo bé, nhỡ, lớn); bổ sung nhóm phương tiện đồ dùng, đồ chơi vào cấu trúc kỹ năng; khảo sát so sánh liên tỉnh (Hà Nội và Thái Nguyên) và tiến hành thực nghiệm biện pháp bồi dưỡng tâm lý – sư phạm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm cơ bản
Luận án kế thừa và phát triển các khái niệm công cụ phục vụ nghiên cứu:
- Kỹ năng: Là sự vận dụng kiến thức, kinh nghiệm hành động/hoạt động của cá nhân vào thực hiện có hiệu quả các hành động/hoạt động trong các điều kiện thực tiễn xác định.
- Giao tiếp: Là sự thiết lập mối quan hệ, trao đổi thông tin về nhận thức, tình cảm, hành động và sử dụng các phương tiện giao tiếp giữa các chủ thể trong những điều kiện xác định.
- Kỹ năng giao tiếp: Là sự vận dụng kiến thức, kinh nghiệm hành động/hoạt động của cá nhân vào thực hiện có hiệu quả các hành động thiết lập mối quan hệ, trao đổi thông tin về nhận thức, tình cảm, hành động và sử dụng các phương tiện giao tiếp giữa các chủ thể trong những điều kiện xác định.
- Giao tiếp sư phạm: Là các hành động thiết lập mối quan hệ, trao đổi thông tin về nhận thức, tình cảm, hành động và sử dụng các phương tiện giao tiếp giữa giáo viên với người học. Hoạt động này mang các đặc trưng: tính chuẩn mực, tính đúng đắn/chính xác, tính tích cực và tính gương mẫu của người giáo viên.
- Kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo: Được cấu thành từ 3 nhóm kỹ năng cơ bản:
- Nhóm kỹ năng thiết lập mối quan hệ với trẻ: Gồm kỹ năng nắm bắt tâm lý trẻ; kỹ năng thể hiện sự thành tâm, thiện ý, tôn trọng trẻ; kỹ năng thể hiện sự yêu thương trẻ.
- Nhóm kỹ năng trao đổi thông tin về nhận thức, tình cảm, hành động: Gồm kỹ năng trao đổi thông tin về nhận thức; kỹ năng trao đổi thông tin về tình cảm; kỹ năng trao đổi thông tin về hành động.
- Nhóm kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp: Gồm kỹ năng sử dụng đồ dùng, đồ chơi (phương tiện đặc thù đáp ứng kiểu tư duy trực quan hành động của trẻ); kỹ năng sử dụng hành vi, cử chỉ; kỹ năng sử dụng ngôn ngữ nói.
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| CẤU TRÚC KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON VỚI TRẺ MẪU GIÁO |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| 1. Nhóm kỹ năng thiết lập mối quan hệ với trẻ |
| - Kỹ năng nắm bắt tâm lý trẻ |
| - Kỹ năng thể hiện sự thành tâm, thiện ý, tôn trọng trẻ |
| - Kỹ năng thể hiện sự yêu thương trẻ |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| 2. Nhóm kỹ năng trao đổi thông tin về nhận thức, tình cảm, hành động |
| - Kỹ năng trao đổi thông tin về nhận thức |
| - Kỹ năng trao đổi thông tin về tình cảm |
| - Kỹ năng trao đổi thông tin về hành động |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| 3. Nhóm kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp |
| - Kỹ năng sử dụng đồ dùng, đồ chơi (phương tiện đặc thù) |
| - Kỹ năng sử dụng hành vi, cử chỉ |
| - Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ nói |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Nguyên tắc phương pháp luận: Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh và 3 nguyên tắc tâm lý học: nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng, nguyên tắc tiếp cận hoạt động – nhân cách, nguyên tắc tiếp cận hệ thống.
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các công trình tài liệu chuyên ngành để xây dựng khung lý thuyết.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi kết hợp phiếu bài tập tình huống: Công cụ chính thu thập dữ liệu định lượng về thực trạng kỹ năng và các yếu tố ảnh hưởng.
- Phương pháp quan sát: Dự giờ, quan sát trực tiếp các biểu hiện hành vi giao tiếp sư phạm của giáo viên qua "hoạt động học".
- Phương pháp trò chuyện – đàm thoại và phỏng vấn sâu: Thu thập dữ liệu định tính chuyên sâu từ giáo viên và cán bộ quản lý.
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến các nhà tâm lý học, giáo dục học để thẩm định thang đo và nội dung thực nghiệm.
- Phương pháp thực nghiệm tác động: Tổ chức chương trình bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp sư phạm để kiểm định giả thuyết.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Nhập liệu và phân tích số liệu thống kê toán học bằng phần mềm SPSS 20.0 (tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, tần suất, kiểm định so sánh theo trình độ đào tạo, thâm niên, địa bàn và phân tích hệ số tương quan $r$).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 (từ trang 12 đến trang 31) trình bày hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về kỹ năng, giao tiếp, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạm. Tác giả phân tích các khuynh hướng tiếp cận kỹ năng giao tiếp dưới góc độ thao tác kỹ thuật, năng lực cá nhân và quá trình hình thành qua các giai đoạn rèn luyện. Đồng thời, chương này chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đó về giao tiếp sư phạm mầm non chưa bao quát hết các độ tuổi mẫu giáo (từ 3 đến 6 tuổi) và chưa chú trọng đúng mức đến đồ dùng, đồ chơi như một phương tiện giao tiếp sư phạm trực quan đặc thù. Từ đó, tác giả xác lập khoảng trống khoa học và định hình 4 vấn đề trọng tâm mà luận án trực tiếp giải quyết.
Chương 2: Cơ sở lý luận về kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo
Chương 2 (từ trang 32 đến trang 89) phân tích và chuẩn hóa hệ thống khái niệm: kỹ năng, quá trình hình thành kỹ năng (qua các mô hình 3 bước, 4 giai đoạn, 5 giai đoạn), giao tiếp, kỹ năng giao tiếp và giao tiếp sư phạm. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra định nghĩa và cấu trúc kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo gồm 3 nhóm kỹ năng thành phần, đi kèm các tiêu chí đánh giá mức độ biểu hiện và hệ thống các yếu tố ảnh hưởng (nhóm yếu tố chủ quan và nhóm yếu tố khách quan). Toàn bộ nội dung lý luận được tổng hợp tại Bảng 2.1 làm cơ sở thiết kế công cụ đo lường thực tiễn.
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 (từ trang 90 đến trang 111) trình bày quy trình tổ chức nghiên cứu gồm các giai đoạn chuẩn bị, khảo sát thực trạng và tổ chức thực nghiệm. Tác giả thiết kế và chuẩn hóa hệ thống công cụ khảo sát thực tiễn bao gồm: phiếu điều tra bảng hỏi, các bài tập tình huống sư phạm mầm non, biên bản quan sát hoạt động học, hướng dẫn phỏng vấn sâu và khung nội dung chương trình thực nghiệm tác động tâm lý – sư phạm. Địa bàn triển khai gồm 10 trường mầm non công lập tại tỉnh Thái Nguyên và thành phố Hà Nội. Quy trình xử lý thống kê được thiết lập chuẩn hóa trên phần mềm SPSS 20.0.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo
Chương 4 (từ trang 112 đến trang 172) là chương thực nghiệm và thực tiễn, phân tích toàn bộ dữ liệu khảo sát và kết quả can thiệp thực nghiệm thông qua hệ thống bảng và biểu đồ số liệu:
| Ký hiệu bảng / biểu đồ |
Tên bảng / biểu đồ trong luận án |
Nội dung số liệu phản ánh |
| Bảng 4.1 & Biểu đồ 4.1, 4.2 |
Đánh giá chung về thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non |
Điểm trung bình và tỷ lệ phân bố các mức độ (yếu, trung bình, khá, tốt) của kỹ năng giao tiếp sư phạm. |
| Bảng 4.2a, 4.2b, 4.2c, 4.2d |
Nhóm kỹ năng thiết lập mối quan hệ với trẻ mẫu giáo và các kỹ năng thành phần |
Mức độ biểu hiện của kỹ năng nắm bắt tâm lý; thể hiện sự thành tâm, thiện ý, tôn trọng; thể hiện sự yêu thương trẻ. |
| Bảng 4.3a, 4.3b, 4.3c, 4.3d |
Nhóm kỹ năng trao đổi thông tin về nhận thức, tình cảm, hành động |
Điểm trung bình thực trạng trao đổi thông tin nhận thức, biểu lộ tình cảm và hướng dẫn hành động cho trẻ. |
| Bảng 4.4a, 4.4b, 4.4c, 4.4d |
Nhóm kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp |
Thực trạng sử dụng đồ dùng đồ chơi, sử dụng hành vi cử chỉ và sử dụng ngôn ngữ nói trong hoạt động học. |
| Bảng 4.5 & Biểu đồ 4.3 |
So sánh mức độ kỹ năng giao tiếp sư phạm theo trình độ đào tạo |
Phân tích sự khác biệt điểm kỹ năng giữa các nhóm trình độ chuyên môn của giáo viên. |
| Bảng 4.6 & Biểu đồ 4.4 |
So sánh mức độ kỹ năng giao tiếp sư phạm theo thâm niên nghề nghiệp |
Đánh giá biến thiên của kỹ năng giao tiếp sư phạm theo số năm công tác của giáo viên mầm non. |
| Bảng 4.7 & Biểu đồ 4.5 |
So sánh mức độ kỹ năng giao tiếp sư phạm theo địa bàn |
So sánh mức độ kỹ năng giữa giáo viên mầm non tại Hà Nội và Thái Nguyên. |
| Bảng 4.8 & Sơ đồ 4.1 |
Tương quan giữa các kỹ năng ($r$) và tương quan với các yếu tố ảnh hưởng |
Hệ số tương quan Pearson giữa 3 nhóm kỹ năng và mối quan hệ với các yếu tố chủ quan/khách quan. |
| Bảng 4.9 & Bảng 4.10 |
Điểm trung bình chung và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng |
Xếp hạng mức độ tác động của nhận thức, lòng yêu nghề, kinh nghiệm, tâm lý trẻ và điều kiện làm việc. |
| Bảng 4.11 – 4.14 & Biểu đồ 4.6 – 4.9 |
Kết quả khảo sát trước và sau thực nghiệm theo điểm trung bình và tần suất |
Minh chứng sự chuyển biến tích cực ở cả 3 nhóm kỹ năng của nhóm giáo viên sau khi tham gia bồi dưỡng tác động. |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về kỹ năng giao tiếp sư phạm trong giáo dục mầm non; xây dựng định nghĩa hoàn chỉnh về kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo.
- Xác định rõ cấu trúc gồm 3 nhóm kỹ năng cơ bản: (1) Nhóm kỹ năng thiết lập mối quan hệ với trẻ; (2) Nhóm kỹ năng trao đổi thông tin về nhận thức, tình cảm, hành động; (3) Nhóm kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp.
- Luận án bổ sung và khẳng định vai trò của phương tiện đồ dùng, đồ chơi như một thành tố phương tiện giao tiếp sư phạm đặc thù, trực tiếp tương thích với đặc điểm nhận thức và tư duy trực quan hành động của lứa tuổi mẫu giáo.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Luận án chỉ ra thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo tại các địa bàn nghiên cứu (Hà Nội và Thái Nguyên) nhìn chung ở mức trung bình. Trong đó, nhóm kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp đạt điểm cao nhất, còn nhóm kỹ năng thiết lập mối quan hệ với trẻ đạt mức độ thấp nhất.
- Luận án chứng minh nhóm yếu tố chủ quan (nhận thức về kỹ năng giao tiếp sư phạm, lòng yêu nghề mến trẻ, kinh nghiệm nghề nghiệp) có mức độ ảnh hưởng lớn hơn so với nhóm yếu tố khách quan (đặc điểm tâm lý trẻ, điều kiện cơ sở vật chất môi trường làm việc).
- Đề xuất các biện pháp tâm lý – sư phạm cụ thể: tổ chức chương trình tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp sư phạm cho giáo viên mầm non với nội dung, hình thức và phương pháp tổ chức phù hợp. Kết quả thực nghiệm tác động cho thấy sự cải thiện rõ rệt về điểm số và tần suất biểu hiện kỹ năng của giáo viên ở giai đoạn sau thực nghiệm so với trước thực nghiệm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Phạm vi hoạt động: Luận án chỉ tập trung khảo sát kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên thông qua "hoạt động học" của trẻ tại trường mầm non, chưa mở rộng sang các hoạt động khác trong chế độ sinh hoạt hàng ngày (như hoạt động chơi, giờ ăn, giờ ngủ, hoạt động đón và trả trẻ).
- Phạm vi loại hình trường: Khách thể nghiên cứu mới chỉ tập trung vào đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và trẻ tại các trường mầm non thuộc loại hình công lập.
- Phạm vi địa bàn: Khảo sát thực tiễn mới thực hiện tại 10 trường mầm non thuộc hai địa bàn là Thành phố Hà Nội và Tỉnh Thái Nguyên.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non trong toàn bộ các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và sinh hoạt đa dạng trong ngày của trẻ.
- Triển khai nghiên cứu so sánh trên các loại hình cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập (trường tư thục, dân lập, nhóm lớp độc lập tư thục).
- Mở rộng khảo sát trên các vùng kinh tế – xã hội khác nhau (vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, miền núi) để đánh giá toàn diện hơn các yếu tố tác động.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Tâm lý học và Giáo dục học mầm non: Tham khảo khung lý thuyết, bộ khái niệm chuẩn hóa, phương pháp tiếp cận và hệ thống công cụ đo lường kỹ năng giao tiếp sư phạm mầm non (phiếu hỏi, bài tập tình huống, thang đánh giá 3 nhóm kỹ năng).
- Giảng viên các trường đại học, cao đẳng sư phạm đào tạo ngành Giáo dục Mầm non: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy trong các học phần Tâm lý học lứa tuổi mầm non, Giáo dục học mầm non và Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên.
- Cán bộ quản lý trường mầm non và chuyên viên giáo dục mầm non: Vận dụng khung tiêu chí để đánh giá năng lực giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, đồng thời xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn định kỳ.
- Giáo viên mầm non: Sử dụng tài liệu tập huấn và các biện pháp tâm lý – sư phạm trong luận án để tự đánh giá, điều chỉnh và rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo trong thực tế chăm sóc giáo dục hàng ngày.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo gồm những nhóm kỹ năng nào?
Luận án xác định cấu trúc kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non gồm 3 nhóm cơ bản:
- Nhóm kỹ năng thiết lập mối quan hệ với trẻ (gồm kỹ năng nắm bắt tâm lý; thể hiện sự thành tâm, thiện ý, tôn trọng; thể hiện sự yêu thương trẻ).
- Nhóm kỹ năng trao đổi thông tin về nhận thức, tình cảm, hành động (gồm trao đổi thông tin nhận thức, tình cảm, hành động).
- Nhóm kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp (gồm kỹ năng sử dụng đồ dùng đồ chơi, kỹ năng sử dụng hành vi cử chỉ và kỹ năng sử dụng ngôn ngữ nói).
2. Thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non đạt mức độ nào và nhóm kỹ năng nào thấp nhất?
Theo kết quả khảo sát thực trạng tại Chương 4 (Bảng 4.1 và Bảng 4.9), mức độ kỹ năng giao tiếp sư phạm chung của giáo viên mầm non đạt mức trung bình. Trong 3 nhóm kỹ năng, nhóm kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp đạt điểm trung bình cao nhất, trong khi nhóm kỹ năng thiết lập mối quan hệ với trẻ đạt mức độ thấp nhất.
3. Phương tiện giao tiếp nào được tác giả bổ sung như một điểm đặc thù trong giao tiếp sư phạm mầm non?
Tác giả bổ sung phương tiện "đồ dùng, đồ chơi" vào nhóm kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp. Đây là phương tiện trực quan đặc thù của bậc học mầm non, phù hợp với đặc điểm tư duy trực quan hành động của trẻ mẫu giáo.
4. Nhóm yếu tố nào ảnh hưởng nhiều nhất đến kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non?
Kết quả nghiên cứu thực trạng và phân tích tương quan tại Chương 4 (Bảng 4.10, Sơ đồ 4.1) xác định nhóm yếu tố chủ quan (gồm nhận thức của giáo viên về kỹ năng giao tiếp sư phạm, lòng yêu nghề mến trẻ, kinh nghiệm nghề nghiệp) có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn so với nhóm yếu tố khách quan.
5. Biện pháp tác động thực nghiệm nào đã được luận án tiến hành và kết quả ra sao?
Tác giả đã tổ chức thực nghiệm tác động thông qua hình thức lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp sư phạm cho giáo viên mầm non với nội dung và phương pháp tổ chức phù hợp. Kết quả kiểm định thống kê trước và sau thực nghiệm (Bảng 4.11 – 4.14, Biểu đồ 4.6 – 4.9) khẳng định mức độ và tần suất biểu hiện các kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên nhóm thực nghiệm tăng lên rõ rệt.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thúy Hoàn là công trình nghiên cứu hệ thống về mặt lý luận và thực tiễn đối với kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo (3–6 tuổi). Bằng việc kết hợp các phương pháp điều tra bảng hỏi, bài tập tình huống, quan sát thực tế và phân tích thống kê trên phần mềm SPSS 20.0, luận án đã xác định rõ thực trạng mức độ kỹ năng và các yếu tố chủ quan, khách quan chi phối. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính khả thi của biện pháp tập huấn bồi dưỡng tâm lý – sư phạm trong việc nâng cao năng lực giao tiếp nghề nghiệp của giáo viên, đáp ứng yêu cầu Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non tại các cơ sở giáo dục hiện nay.