Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG XÃ HỘI CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THEO TIẾP CẬN TRẢI NGHIỆM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về kĩ năng xã hội của trẻ 1. Trên thế giới Có nhiều công trình nghiên cứu về KNXH của trẻ, tiêu biểu là công trình nghiên cứu của: Denham, S.
Preschool emotional competence: Pathway to social competence? Child Development, 74(1), 238-256. Cho rằng trẻ có khả năng cảm xúc tốt hơn có xu hướng có KNXH cao hơn, đồng thời cho thấy vai trò quan trọng của giáo dục về quản lý cảm xúc và KNXH trong giai đoạn này [25]. Theo Elliott và Gresham, các KNXH có thể được đo lường bằng cách đánh giá sự hợp tác, sự quả quyết và khả năng tự kiểm soát của trẻ. Hợp tác là một tương tác XH, ở đó các cá nhân phát triển các HĐ của họ một cách có tổ chức và tương tác với nhau nhằm đạt mục tiêu chung.
Nó bao gồm các hành vi như giúp đỡ người khác, hợp tác và tuân theo các quy tắc và mệnh lệnh. Khẳng định liên quan đến việc bắt đầu các hành vi như thu thập thông tin từ người khác và giới thiệu bản thân với họ. Tự chủ là sự thể hiện cảm xúc cá nhân và bao gồm các hành vi trong tình huống khác nhau, trẻ phải có phản ứng thích hợp. Sự thiếu hụt các KNXH trong giai đoạn này có thể dẫn đến rối loạn hành vi bên trong và bên ngoài, kết quả học tập kém, sự hòa giải không phù hợp trong các mối quan hệ giữa các cá nhân, suy giảm giáo dục và nhận thức, sự cô lập và các vấn đề tâm lý sau này trong cuộc sống.
Các KNXH của trẻ em bị ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hoá và môi trường. Ở các nền văn hóa khác nhau, các KN giao tiếp và XH hóa được chú trọng khác nhau. Theo Tạp chí Y tế công cộng Hoa Kỳ, trẻ có KNXH tốt ở mẫu giáo có xu hướng có cuộc sống lành mạnh và ít vấn đề sức khỏe trong tương lai. [28] Như vậy, có thể thấy trên thế giới KNXH của trẻ đã được nghiên cứu từ rất lâu trên nhiều khách thể khác nhau.
Có nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm và đề cao việc GDKNXH của trẻ. Ở Việt Nam Theo Trần Thị Tố Oanh và Đặng Thành Hưng, KNXH là một KN nhằm áp dụng trực tiếp vào những quá trình, quan hệ, hoàn cảnh và đời sống công cộng để giúp trẻ nhận thức và ứng xử, giao tiếp cũng như thích ứng XH thành công, hiệu quả ở mức độ nhất định. [20] Theo khảo sát "Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học của trẻ MN Việt Nam năm 2013", có khoảng 1/2 số trẻ em Việt Nam 5 tuổi có nguy cơ thiếu hụt hoặc thiếu hụt ít nhất một trong năm KN cần thiết để bắt đầu đi học, trong đó có KNXH". Hiện nay hiệu quả GDKNXH cho trẻ nói chung còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của XH.
Những hoạt động GDKNXH chủ yếu được tích hợp qua các HĐ trong ngày, GV chưa biết cách tận dụng các tình huống để lồng ghép nội dung GDKNXH cho trẻ, chưa biết chọn nội dung giáo dục phù hợp với độ tuổi của trẻ. Hơn nữa, GDKNXH chưa được nhà trường quan tâm nghiên cứu, xây dựng mục tiêu, kế hoạch, việc định hướng GDKNXH cho trẻ và việc phối hợp của nhà trường và gia đình còn hạn chế. Ngoài ra, sự bao bọc quá kỹ sẽ khiến trẻ không thích nghi được với môi trường xung quanh, khả năng tự lập thấp và dẫn đến những sai lệch trong nhận thức lẫn hành động. Các nghiên cứu về giáo dục kĩ năng xã hội cho trẻ 1.
Trên thế giới Bà Monisha Dewan - chuyên gia giáo dục UNICEF Khu vực Đông Á Thái Bình Dương nhấn mạnh: "Những năng lực tình cảm, KNXH là viên gạch đặt nền tảng cho việc phát triển thể chất, tinh thần của mỗi cá nhân. thì cho rằng gia đình có vai trò quan trọng trong việc giáo dục trẻ mẫu giáo. Nghiên cứu nhấn mạnh rằng sự tham gia tích cực của gia đình có liên quan đến việc phát triển KNXH của trẻ. Nghiên cứu Shiner, R.
Childhood personality foreshadows adult personality and life outcomes two decades later. Journal of personality cho thấy các KNXH, như tự tin, kiên nhẫn và nhạy bén xã hội ở trẻ 5-6 tuổi có liên quan mật thiết đến tính cách và thành công trong cuộc sống khi trưởng thành. [27] 6 Như vậy, KNXH là nền tảng cho phát triển thể chất và tinh thần của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, hiệu quả GDKNXH cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN còn thấp.
GDKNXH cho trẻ 5-6 tuổi tại Việt Nam chưa thực sự được chú trọng. Ở Việt Nam Theo Nguyễn Thị Minh Hương, trường ĐHSP Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh thì môi trường gia đình có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển KNXH của trẻ. Nếu môi trường gia đình ấm cúng ở đó có sự tham gia tích cực của cha mẹ thì việc phát triển KNXH của trẻ sẽ tốt hơn. Đồng thời, phong cách giáo dục của cha mẹ cũng ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển KNXH của trẻ.
Còn theo tác giả Lê Bích Ngọc, “Giáo dục KN sống cho trẻ từ 5-6 tuổi” Trẻ từ 5 đến 6 tuổi thích kết bạn mới,. Trẻ có thể thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ người lớn giao, có thể hợp tác tốt trong nhiều HĐ, biết tôn trọng quy tắc xã hội, quý trọng đồng tiền, biết giữ gìn đồ dùng, đồ chơi,… Sau nhiều năm nghiên cứu, BGD&ĐT đã xây dựng chương trình khung GDMN năm 2009 và bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi, đây là kim chỉ nam cho GVMN trong các HĐ chăm sóc, giáo dục trẻ tại trường MN. Trong đó, tình cảm và KNXH được tách riêng thành một trong năm lĩnh vực cần phát triển cho trẻ. Tác giả Trần Thị Quốc Minh nhận định ảnh hưởng của người lớn trong việc giáo dục trẻ cũng như hình thành nhân cách: “Trẻ tìm hiểu cuộc sống người lớn qua trò chơi, câu chuyện cổ tích, qua đó lĩnh hội quy tắc, chuẩn mực đạo đức, phân biệt tốt – xấu”, qua đó trẻ hiểu được ý nghĩa và sự cần thiết phải thực hiện các quy tắc, hành vi, thói quen đúng đắn.
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết thì cho rằng những hành vi văn hóa cần giáo dục cho trẻ dưới 6 tuổi. Việc giáo dục hành vi văn hóa có liên hệ mật thiết với việc GDKNXH cho trẻ trong độ tuổi mẫu giáo như: giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với bản thân; giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với thiên nhiên,…[18] Như vậy, KNXH là nền tảng cho phát triển thể chất và tinh thần của mỗi cá nhân và được XH quan tâm. Tuy nhiên, chủ yếu các công trình nghiên cứu tập trung vào GDKNXH cho trẻ nói chung, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về GDKNXH cho trẻ theo TCTN. Mặt khác, hiệu quả GDKNXH cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN còn thấp.
GDKNXH cho trẻ 5-6 tuổi tại Việt Nam chưa thực sự được chú trọng. Đặc biệt, đối 7 với nghiên cứu GDKNXH cho trẻ 5-6 tuổi theo TCTN thì chưa có tác giả nào đi sâu tìm hiểu về nó. Chính vì vậy, tôi lựa chọn vấn đề nghiên cứu của mình “Giáo dục kĩ năng xã hội cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo tiếp cận trải nghiệm”. Các khái niệm cơ bản 1.
Kĩ năng Theo từ điển tâm lí học, “KN là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”. (Vũ Dũng, 2008) Theo tác giả ND.Levitov, ông xem xét KN gắn liền với kết quả của hành động. Ông nhấn mạnh, muốn hình thành KN, con người phải nắm vững lí thuyết về hành động, vừa phải vận dụng lí thuyết đó vào thực tế. Đây là quá trình quan trọng để đánh giá KN của một cá nhân.
Khi cá nhân được thừa hưởng quá trình hình thành KN dựa trên một khung lí thuyết hành động sẽ giúp KN được hình thành và ổn định một cách lâu dài, bền vững và hiệu quả.Petrovxki thì lại cho rằng “KN là cách thức cơ bản để chủ thể thực hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức đã thu lượm được, những thói quen và kinh nghiệm”. Richard (2003) thì coi kĩ năng là hành động được thể hiện ra bên ngoài, chịu sự chi phối của cách cảm nhận và suy nghĩ của cá nhân. Ông xem xét KN trong việc liên kết tri thức, kinh nghiệm, phương thức hành động với các giá trị thái độ, chuẩn mực động cơ hành động của cá nhân. KN được thể hiện một cách chuyên nghiệp và tuân thủ các quy tắc ứng xử.
Một số quan điểm theo trường phái hiện đại, xem KN là một dạng hành động của mỗi cá nhân được thực hiện theo mục đích dựa vào những điều kiện nhất định. Từ những quan điểm trên về KN có thể thấy tất cả những quan điểm khác nhau về KN đều có chung quan điểm đó là xem KN là một thành phần của năng lực hay một dạng năng lực. Như vậy, KN là hành động luôn được kiểm soát bởi ý thức, được thực hiện dựa trên những thuộc tính sinh học, tâm lí và xã hội của cá nhân thích hợp với yêu cầu hoạt động cũng như những điều kiện khách quan khác của môi trường HĐ, đạt được kết quả 8 thực tế theo mục tiêu hay tiêu chí đã định trước. Sự mềm dẻo, linh hoạt, thành thạo là tiêu chuẩn quan trọng để xác định sự hình thành và phát triển KN.
Trong đề tài này, người nghiên cứu sử dụng quan điểm “Kĩ năng là khả năng sử dụng tri thức, kinh nghiệm theo mục đích dựa vào những điều kiện nhất định một cách thích hợp”. Kĩ năng xã hội Theo tác giả Đặng Thành Hưng và Trần Thị Tố Oanh cho rằng: “KNXH là khái niệm chỉ những loại KN được hướng tới và áp dụng trực tiếp vào những quan hệ, hoàn cảnh, quá trình và đời sống XH cộng đồng để giúp cá nhân nhận thức, ứng xử, giao tiếp và thích ứng XH thành công, hiệu quả ở những mức độ nhất định. Ngoài ra, Đặng Thành Hưng còn cho rằng “KNXH là một dạng hành động tự giác dựa vào ý thức, thể chất và các điều kiện XH khác mà cá nhân có”. Như vậy, KNXH là khả năng thích ứng, duy trì các mối QHXH.
Đối với trẻ MN, khả năng hình thành và duy trì mối QHXH của trẻ em với người lớn xuất phát từ sự phát triển XH của chúng.