Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức bồi dưỡng năng lực quản lý nhóm, lớp ghép cho giáo viên ở các trường Mầm non vùng đặc biệt khó khăn huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên. Chương 2: Thực trạng tổ chức bồi dưỡng năng lực quản lý nhóm, lớp ghép cho giáo viên mầm non ở các trường mầm non vùng đặc biệt khó khăn huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên. Chương 3: Biện pháp tổ chức bồi dưỡng năng lực quản lý nhóm, lớp ghép cho giáo viên ở các trường Mầm non vùng đặc biệt khó khăn huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÓM, LỚP GHÉP CHO GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƢỜNG MẦM NON VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu về năng lực và năng lực quản lý nhóm, lớp của GVMN: Trên thế giới, việc nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ GVMN nói chung và phát triển năng lực quản lý nhóm, lớp cho GV nói riêng luôn được các nhà quản lý, các nhà giáo dục quan tâm. Hoa Kỳ là quốc gia đi đầu trong công tác xây dựng và phát triển đội ngũ GVMN. Ủy ban quốc gia chuẩn nghề dạy học ở Hoa Kỳ đã đề ra 5 điểm cốt lõi đối với giáo viên là: “(1) Phải tận tâm với việc học của học sinh; (2) Ngoài việc nắm chắc môn học của mình, giáo viên phải liên hệ được với các môn học khác; (3) Phải chịu trách nhiệm về công tác giảng dạy, quản lý, kiểm tra, đánh giá học tập lớp học; (4) Thường xuyên suy nghĩ sáng tạo, phát triển kinh nghiệm nghề nghiệp của bản thân; (5) Bản thân mỗi giáo viên phải là thành viên đáng tin cậy của cộng đồng học tập, biết cộng tác với đồng nghiệp, hợp tác với cha mẹ học sinh” [6].
Với 5 biểu hiện cần có của người giáo viên mầm non có thể được hiểu là những yêu cầu về năng lực của giáo viên ở trường mầm non. Unesco nhấn mạnh vai trò quản lý lớp học người giáo viên như sau: “Càng ngày giáo viên càng đảm nhận nhiều chức năng khác hơn so với trước, có trách nhiệm và tính chủ động cao hơn trong việc lựa chọn nội dung, hình thức và phương pháp sử dụng trong dạy học và tổ chức quản lý lớp học” (Chiến lược phát triển GD của UNESCO). Như vậy, việc phát triển năng lực quản lý nhóm, lớp cho GVMN hết sức cần thiết. 6 Năng lực của giáo viên mầm non theo Sonja Sheridan, Pia Williams, Anette Sandberg & Tuula Vuorinen (2011) được cấu thành bởi bốn thành phần: sự hiểu biết, yếu tố cụ thể, kỹ năng, sự quen thuộc.
Theo đó năng lực sư phạm của GVMN gồm 4 năng lực thành phần: (1) Năng lực cá nhân (GVMN giao tiếp với trẻ tích cực, thoải mái, gắn kết và muốn trở thành 1 phần trong cuộc sống của trẻ); (2). Năng lực sư phạm liên quan đến kiến thức thực sự của giáo viên về trẻ học và phát triển như thế nào trong mối quan hệ với lý thuyết học tập hiện tại; (3) Nội dung kiến thức, điều này có nghĩa là giáo viên có kiến thức thực sự về nội dung mà họ muốn trẻ học; (4) Năng lực giáo dục (giáo viên có năng lực tạo ra những điều kiện cho việc học của trẻ trong những điều kiện khác nhau). Nghiên cứu giới thiệu 3 nhóm năng lực của người giáo viên mầm non tập trung vào 3 nhóm như sau: - Hiểu biết về cái gì và tại sao (ở nhóm NL này GVMN cần có hiểu biết về nội dung kiến thức, có năng lực phản ánh, tự giáo dục và sự sẵn sàng thay đổi); - Nhận diện, hiểu vấn đề và cách thức: biểu hiện qua những năng lực thành phần là năng lực lãnh đạo và tổ chức, linh hoạt; - Tương tác, mối quan hệ và sự chia sẻ lẫn nhau (NL giao tiếp, NL xã hội, NL quan tâm chăm sóc và NL giáo dục) [54]. Nghiên cứu về năng lực của GVMN theo tiếp cận mối quan hệ giữa các yếu tố thành phần của năng lực nghề nghiệp GVMN tác giả Döndü Neslihan Bay (Döndü Neslihan Bay (2020), Investigation of the relationship between self-efficacy belief and Classroom Management Skills of Preschool Teachers with Other Variables, International electronic journal of Elementary Education, Vol.4) đã chỉ ra trong công trình nghiên cứu của mình về mối quan hệ giữa niềm tin vào tính hiệu quả của người GVMN và năng lực quản lý nhóm lớp của họ.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng giữa hai lĩnh vực này có mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau, bên cạnh đó nghiên cứu cũng cho thấy năng lực quản lý lớp học của GVMN bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: tuổi tác của GVMN, thâm niên, loại trường họ công tác và số lượng trẻ trong nhóm, lớp [50]. 7 Những nghiên cứu về năng lực quản lý nhóm, lớp của giáo viên mầm non được nghiên cứu trước đây cho thấy việc hình thành năng lực quản lý nhóm, lớp được tạo thành bởi 3 mô hình sau đây: đào tạo giáo viên để quản lý các hành vi thói quen trong nhóm lớp, mô hình kết quả công bằng, đào tạo giáo viên hiệu quả. Nghiên cứu của Qutaiba Agbaria (2020), (Classroom Management Skills among Kindergarten Teachers as related to Emotional Intelligence and Self-Efficacy, International Journal of Instruction, January 2021 ● Vol.1) cho thấy có mối quan hệ chặt chẽ giữa trí tuệ cảm xúc và kỹ năng quản lý lớp học của người giáo viên mầm non [55]. Nghiên cứu về phát triển năng lực quản lý nhóm, lớp của giáo viên mầm non trong mối quan hệ với các biến khác nhau được tác giả Alayan Dinçer, Ege Akgün (2015), [50] đề cập đến trong nghiên cứu của mình.
Nghiên cứu chỉ ra: không có sự khác biệt đáng kể đối với kỹ năng quản lý nhóm, lớp của GVMN theo mức độ giáo dục, nhưng lại có sự khác biệt đáng kể của kĩ năng quản lý nhóm, lớp ở GVMN theo độ tuổi, loại hình cơ sở giáo dục mà họ được đào tạo, tình trạng việc làm, độ tuổi, quy mô nhóm, lớp và độ tuổi của trẻ. Nghiên cứu ở Việt Nam Tiếp cận nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên mầm non theo hướng tìm kiếm các yếu tố liên quan đến chất lượng và hiệu quả bồi dưỡng, tác giả Nguyen Thi Hien, Mai Van Hung (2021) trong công trình nghiên cứu đã chỉ ra việc thực hiện bồi dưỡng với người hướng dẫn có hiểu biết, nhận thức về chuẩn nghề nghiệp với những lớp bồi dưỡng được tổ chức ở cấp phòng GD hoặc cấp trường, quy mô nhỏ với số lượng giáo viên tham gia ít hơn so với trước đây có hiệu quả cao hơn [49]. Tác giả Cù Thị Thủy trong bài viết “Năng lực nghề nghiệp của giáo viên mầm non đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non”[39] đã phân tích những yêu cầu đổi mới của GDMN trong giai đoạn hiện nay, chỉ ra 4 đặc thù về hoạt động nghề nghiệp của người giáo viên mầm non và đề cập đến 4 yêu cầu năng 8 lực nghề nghiệp của GVMN đáp ứng yêu cầu đổi mới GDMN là: Tri thức nghề nghiệp; kỹ năng nghề nghiệp; Thực thi đạo đức nghề nghiệp; Thực thi văn hóa nghề nghiệp. Nghiên cứu về bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên mầm non, tác giả Nguyễn Thị Thanh Thủy trong bài viết “Bồi dưỡng, nâng cao trình độ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục mầm non ở tỉnh Sơn La theo đề án đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục mầm non giai đoạn 2018 - 2025” [40] đã phân tích chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý trường mầm non ở tỉnh Sơn La, từ đó đề xuất 4 giải pháp đào tạo và bồi dưỡng tập trung: Đổi mới công tác truyền thông về đào tạo và bồi dưỡng; Đổi mới về đào tạo giáo viên mầm non; Đẩy mạnh xã hội hóa; Tổ chức hội thảo, hội nghị về đào tạo và bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý trường mầm non.
Đề cập xây dựng đội ngũ giáo viên mầm non có trình độ chuyên môn vững, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đã được đề cập đến trong bài viết của tác giả Đặng Hồng Phương “Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng Giáo dục mầm non Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế” [32]. Bài viết đề cập đến các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ bao gồm: (1) Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lí (CBQL) các cấp thật sự có trình độ chuyên môn vững vàng và năng lực về quản lí; (2) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ quản lí hành chính Nhà nước của đội ngũ CBQL GDMN; (3) Nâng cao chất lượng đào tạo GVMN ở các trường sư phạm; (4) Đổi mới về chính sách quản lí nhân lực. Nghiên cứu về hoạt động quản lý ở trường mầm non có thể kể đến như: “Biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non Quận Tân Phú thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 - 2010” (Tác giả Nguyễn Thị Vân Anh, 2006); “Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tỉnh Điện Biên” (Tác giả Bùi Thị Ngân, 2014); “Biện pháp quản lý các hoạt động giáo dục trẻ của Hiệu trưởng trường mầm non huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” (Tác giả Nguyễn Đặng Hải Sâm, 2015); “Quản lý hoạt động giáo dục ở trường mầm non 9 Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay” (Tác giả An Thị Bích Đào, 2016); “Phát triển đội ngũ giáo viên trường mầm non quận Hồng Bàng thành phố Hải phòng đáp ứng chuẩn nghề nghiệp” (Tác giả Nguyễn Thị Mai, 2020),… Tác giả Phạm Thị Loan (2010) trong luận án tiến sỹ “Quản lý phát triển năng lực giáo viên mẫu giáo theo tiếp cận kỹ năng nghề đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non” đã nghiên cứu việc phát triển năng lực giáo viên mẫu giáo theo tiếp cận kỹ năng nghề. Tác giả cũng đã đề xuất một số biện pháp phát triển năng lực cho giáo viên mầm non, trong đó có tổ chức bồi dưỡng năng lực giáo viên [26].
Tác giả Nguyễn Thị Thùy (2018) trong bài viết “Thực trạng quản lý bồi dưỡng đội ngũ giáo viên ở một số trường mầm non chất lượng cao trên địa bàn thành phố Hà Nội” đã khảo sát thực trạng hoạt động bồi dưỡng giáo viên và xác định một số những yếu tố ảnh hưởng đến công tác này [38]. Ở Việt Nam, mô hình lớp học với nhiều lứa tuổi và nhiều nội dung dạy học đã có từ thời phong kiến. Đó là các lớp học của các thầy Đồ, các hương sư ở các làng quê.