Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp giáo viên ở các trường mầm non theo chuẩn nghề nghiệp. Chương 2: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp giáo viên các trường mầm non thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai theo chuẩn nghề nghiệp Chương 3: Một số biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp giáo viên các trường mầm non thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai theo chuẩn nghề nghiệp. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN Ở TRƢỜNG MẦM NON THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan về nghiên cứu vấn đề 1.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu về vấn đề này, Macarenco - Nhà giáo dục lỗi lạc Xô Viết cho rằng: “Những cơ sở căn bản của việc giáo dục trẻ đã được hình thành từ trước tuổi lên 5. Những điều dạy trẻ trong thời kỳ đó chiếm 90% tiến trình giáo dục trẻ. Về sau việc giáo dục con người vẫn tiếp tục, nhưng đó là lúc bắt đầu nếm quả. Còn những nụ hoa thì đã được vun trồng trong 5 năm đầu tiên” [30].Petrovxki coi năng lực là thành tố cấu tạo nên nhân cách, năng lực luôn gắn với những yêu cầu đặt ra của một hoạt động nhất định.
Theo ông, năng lực nghề nghiệp được hiểu là tổ hợp xác định các phẩm chất tâm lý của nhân cách, những phẩm chất này là điều kiện để đạt được kết quả cao trong việc dạy học và giáo dục trẻ em. Sự phát triển của năng lực nghề nghiệp gắn liền một cách hữu cơ với việc nắm các kỹ năng, kỹ xảo sư phạm, với tư cách là những cấu thành nhân cách đảm bảo cho hoạt động của người giáo viên đạt kết quả cao của hoạt động sư phạm [41]. Dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin các nghiên cứu của: B. Pêtrovxki và một số tác giả khác đã có những nghiên cứu tương đối toàn diện về năng lực sư phạm.
Đây là những cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu năng lực dạy học của người giáo viên. Nhưng đáng chú ý là A. Makarencô, nhà giáo dục nổi tiếng từng nhấn mạnh rằng, những người làm công tác dạy học, giáo dục phải có phẩm chất và năng lực, đặc biệt là tri thức và nghệ thuật dạy học, giáo dục. 7 Để trở thành nhà giáo dục chân chính, ông yêu cầu phải thực sự coi trọng nghề nghiệp, tích cực làm việc, rèn luyện trau dồi tri thức toàn diện được bồi dưỡng để đạt chuẩn và không ngững tự bồi dưỡng trau dồi nghề nghiệp bản thân.
Những đóng góp của Makarencô cho lý luận dạy học, giáo dục là vô cùng lớn lao nhất các vấn đề về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên [41]. Nghiên cứu vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên và giáo viên mầm non, có thể thấy cũng được nhiều tác giả trên thế giới đề cập đến. Với sự xuất hiện của các công nghệ dạy học hiện đại, sự phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật, yêu cầu về vai trò và chức năng của người thầy càng trở nên cấp thiết. Khi đề cập đến phát triển đội ngũ giáo viên, một số nghiên cứu gần đây đề cao việc thúc đẩy phát triển bền vững và sự thích ứng nhanh của giáo viên.Vấn đề đặt ra là giáo viên phải thích ứng cao trước yêu cầu đổi mới.Beerens chủ trương tạo ra một nền văn hóa của sự thúc đẩy, có động lực và luôn học tập (Creating a Culture of Motivation and Learning) trong đội ngũ, coi đó là giá trị mới, yếu tố chính tạo nên nhà giáo.
Theo ông, nhà giáo trước hết phải là nhà chuyên môn, đồng thời nhà giáo phải là nhà lãnh đạo (trong lãnh đạo hoạt động học tập của học sinh), giáo viên phải biết tự làm mới mình để có thể đảm đương được nhiệm vụ [44]. Như vậy, các tác giả đã có những khẳng định tầm quan trọng của hoạt động giảng dạy và đưa ra những yêu cầu về năng lực giảng dạy đối với người thầy. Nhưng các ông chưa chỉ ra được con đường, cách thức để bồi dưỡng năng lực dạy học cho người giáo viên cũng như chưa làm rõ các nội dung của năng lực dạy học và người thầy cần làm thế nào để có được năng lực đó. Nghiên cứu ở Việt Nam Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp là phạm trù thuộc quản lý nguồn nhân lực; đây không chỉ là vấn đề quan tâm của các nhà quản lý mà đã có nhiều khoa học, nhà giáo nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý bồi dưỡng giáo viên cả ở phạm vi vĩ mô và vi mô dưới góc độ 8 quản lý giáo dục theo ngành, bậc học.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục của tác giả Phan Thị Hán Huệ: “Quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non thành phố Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu” (2014) đã luận giải những vấn đề lý luận về năng lực sư phạm của giáo viên mầm non; hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm và quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non. Để nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non, tác giả đã đề xuất 5 biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non thành phố Châu Đức tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu bao gồm những biện pháp từ việc phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cơ quan chuyên môn; xây dựng và thực hiện tổ chức kế hoạch bồi dưỡng cho đến thường xuyên kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động bồi dưỡng [23]. Tác giả Trần Như Tỉnh (2003), Vụ Giáo viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong bài phát biểu “Một số vấn đề về đào tạo - bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp giáo viên mầm non và giải pháp củng cố phát triển đội ngũ giáo viên mầm non”, đã đưa ra các giải pháp về củng cố các trường khoa sư phạm mầm non về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, trang thiết bị dạy học [36]. Tác giả Hồ Lam Hồng và nhóm tác giả nghiên cứu đề tài khoa học: “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chuẩn GVMN đáp ứng yêu cầu đổi mới của GDMN”(năm 2006) đã phân tích những vấn đề lí luận về cách tiếp cận xây dựng chuẩn nghề nghiệp GVMN.
Làm rõ cơ sở thực tiễn trong cách tiếp cận xây dựng chuẩn nghề nghiệp GVMN trong thời kì đổi mới GDMN: Nghề dạy học và nhân cách của GVMN trong thời kì đổi mới; Đổi mới GDMN hiện nay; Phân tích hoạt động lao động của GVMN khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình đổi mới của GDMN [24]. Tác giả Lê Khánh Tuấn (2006) với nghiên cứu “Các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” trong phát triển đội ngũ GV phải đảm bảo tính xã hội hóa, cần có sự 9 tham gia của các lực lượng xã hội vào công tác bồi dưỡng, đào tạo giáo viên; đồng thời phải bảo đảm tính dân chủ hóa để phát huy trí tuệ của mỗi cá nhân trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, tự tu dưỡng để phát triển cá nhân [37]. Tác giả Phạm Minh Giản (2012) với Luận án về “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long theo hướng chuẩn hóa”, tập trung nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông theo chuẩn, đó là cách làm, cách vận dụng hệ thống những vấn đề về chuẩn ĐNGVTHPT do Nhà nước ban hành như về số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ vào thực tiễn quản lý cấp THPT [14]. Tóm lại, nghiên cứu về năng lực nghề nghiệp của giáo viên mầm non cũng như vấn đề quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp đã được nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu.
Tuy nhiên, nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo viên mầm non cũng như quản lý hoạt động này ở các trường mầm non thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai cho đến nay chưa được nhiều tác giả đi sâu khai thác. Thông qua những nghiên cứu của luận văn, những vấn đề lí luận cũng như thực trạng của vấn đề này sẽ tiếp tục được làm rõ hơn. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một chức năng quan trọng bắt nguồn từ tính chất xã hội của hoạt động lao động.
Khái niệm quản lý được hiểu là một hiện tượng xã hội, một yếu tố để cấu thành sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng trải qua nhiều hình thức QL khác nhau. QL là một phạm trù khách quan là một tất yếu lịch sử. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về QL dưới nhiều góc độ khác nhau.
Trong nghiên cứu khoa học có rất nhiều quan niệm về quản lý như: Theo quan điểm chủ nghĩa Mác: “Mọi lao động xã hội dù là trực tiếp hay 10 lao động chung nào tiến hành ở quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để định hướng những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Với người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn điều khiển một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [33]. Taylor: “Đối với mỗi loại công việc dù là nhỏ nhất cũng đều phải được chuyên môn hóa và phải được quản lý một cách chặt chẽ”, “Quản lý được xem là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và việc làm nó bằng phương pháp nào tốt nhất và rẻ nhất” [39]. Nghiên cứu về vấn đề này, Đặng Quốc Bảo chỉ ra rằng: “Quản lý là quá trình gây tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [14].
Còn tác giả Nguyễn Ngọc Quang đưa ra khái niệm: “Công tác quản lý là những tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà quản lý đến những người lao động (khách thể quản lý) hướng tới thực hiện những mục tiêu dự kiến” [34].