Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng giáo viên là vấn đề phát triển cơ bản trong phát triển giáo dục. Việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi người có cơ xã hội học tập suốt đời, học tập thường xuyên để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp hoạt động phù hợp với sự phát triển KT-XH là phương châm hành động của các cấp quản lý giáo dục nhất là giáo dục hướng nghiệp có vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực của đất nước.
Tại Pakistan, có chương trình bồi dưỡng về sư phạm do nhà nước quy định trong thời gian 3 tháng, gồm các nội dung như giáo dục nghiệp vụ dạy học, cơ sở tâm lý giáo dục, phương pháp nghiên cứu, đánh giá và nhận xét học sinh,. đối với đội ngũ giáo viên mới vào nghề chưa quá 3 năm. Ở Philippin, công tác bồi dưỡng cho giáo viên không tổ chức trong năm học mà tổ chức bồi dưỡng vào các khoá học trong thời gian học sinh nghỉ hè. Hè thứ nhất bao gồm các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lý học và đánh giá trong giáo dục; hè thứ hai gồm các môn về quan hệ con người, triết học giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục; hè thứ ba gồm nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu trong giáo dục và hè thứ tư gồm kiến thức nâng cao, kĩ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy sách giáo khoa, sách tham khảo,… Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho giáo viên và giáo viên THPT quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm.
Tùy theo thực tế của từng đơn vị cá nhân mà các cấp quản lý giáo dục đề ra các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6 http://www.vn phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định. Cụ thể là mỗi trường cử từ 3 đến 5 giáo viên được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới phương pháp dạy học. Tại Thái Lan, từ 1998 việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kĩ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội. Triều Tiên là một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viên.
Tất cả đội ngũ giáo viên đều phải tham gia học tập đầy đủ các nội dung chương trình về nâng cao trình độ và nghiệp vụ chuyên môn theo quy định. Nhà nước đã đưa ra hai chương trình lớn được thực thi hiệu quả trong thập kỉ vừa qua; đó là: “Chương trình bồi dưỡng giáo viên mới” để bồi dưỡng giáo viên thực hiện trong 10 năm và “Chương trình trao đổi” để đưa giáo viên đi tập huấn tại nước ngoài. Giáo dục hướng nghiệp luôn là một vấn đề được các nước trên thế giới đặc biệt quan tâm và bồi dưỡng giáo dục hướng nghiệp đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng với bất kỳ quốc gia dân tộc nào bởi việc bồi dưỡng hướng nghiệp cho giáo viên tốt hay không sẽ ảnh hưởng lớn đến thế hệ sau này của cả quốc gia đó. Ở Việt Nam Ngay sau năm 1975, việc đào tạo và bồi dưỡng giáo viên nói chung được thực hiện trong bối cảnh cả nước phải khắc phục hậu quả khốc liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ, nên gặp rất nhiều khó khăn.
Chương trình đào tạo giáo viên ở các vùng miền được tổ chức theo các hình thức khác nhau, nội dung đào tạo khác nhau dẫn tới trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên cũng khác nhau. Để đáp ứng yêu cầu của cải cách giáo dục, Đảng và Nhà nước ta có những chủ trương cấp bách để đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên giáo dục hướng nghiệp theo nhiều loại hình khác nhau đặc biệt là đội ngũ GVTHPT như: đào tạo chính quy, tại chức, ngắn hạn và cấp tốc theo các hệ khác nhau. dẫn đến trình độ của GV THPT không đồng đều. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www.vn Từ năm 1986, cả nước ta bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện để thực hiện mục tiêu CNH-HĐH, Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng phát triển giáo dục nhằm tạo động lực phát triển KT-XH.
Bắt đầu từ đây, việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đã có những chuyển biến tích cực nhằm dần dần chuẩn hoá đội ngũ này, mặc dù nguồn ngân sách giáo dục còn rất hạn hẹp. Hai chu kì bồi dưỡng thường xuyên 1992-1996 và 1997-2000 đã cho phép đúc rút được những kinh nghiệm bổ ích về hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên phổ thông nói chung và GV THPT nói riêng; đồng thời cũng bộc lộ nhiều điều bất cập về nội dung, chương trình, hình thức tổ chức, cơ sở vật chất, tài liệu, thời gian,. và đặc biệt cho thấy những hạn chế trong các công tác quản lý của các cấp, dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng thường xuyên chưa cao, chưa đáp ứng kịp với sự phát triển giáo dục. Do đó vấn đề quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên nói chung và GV tư vấn hướng nghiệp nói riêng còn cần phải tiếp tục nghiên cứu để đề ra những biện pháp hữu hiệu và có tính khả thi đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới.
Khái quát các kết quả nghiên cứu nêu trên, có thể rút ra kết luận: - Cùng với những nghiên cứu về GDHN, TVHN cho học sinh đã được quan tâm nghiên cứu với tư cách là một nội dung của GDHN cho học sinh. Tuy vậy, những nghiên cứu về TVHN cho học sinh cũng có bước thăng trầm. Các công trình nghiên cứu không được thường xuyên và có giai đoạn (giữa những năm 90 trở đi) vắng bóng các công trình nghiên cứu về vấn đề này. - Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đã có những tác động nhất định đối với lĩnh vực tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường phổ thông ở các cấp độ, các bình diện khác nhau, nhưng vẫn còn thiếu những công trình đi sâu vào bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho GV THPT trong giai đoạn nền kinh tế thị trường hiện nay, gắn với một khu vực, một vùng, miền nhất định.
Điều này, một lần nữa khẳng định tính cấp thiết của việc triển khai nghiên cứu luận văn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www. Một số khái niệm công cụ của đề tài 1. Khái niệm tư vấn, tư vấn hướng nghiệp * Khái niệm tư vấn Trong các sách báo nước ngoài, khái niệm tư vấn hàm chứa hai ý nghĩa: tư vấn thông tin và tư vấn tâm lý (tham vấn).
Tư vấn thông tin nặng về cung cấp thông tin chuyên môn còn tư vấn tâm lý mang nhiều ý nghĩa của sự trợ giúp mang tính cá nhân và riêng tư về những vấn đề riêng của con người. Bản thân khái niệm tư vấn cũng được hiểu rất khác nhau. Nghiên cứu của Kell & Burown (1998) đã viện dẫn một số minh hoạ như sau: Good - một nhà biên soạn Từ điển Giáo dục đã định nghĩa: “Tư vấn là một loại trợ giúp mang tính cá nhân và riêng tư về những vấn đề riêng của con người về vấn đề giáo dục, vấn đề nghề nghiệp” [39]. Định nghĩa này nhấn mạnh đến cơ sở của nhận thức và vận dụng sự hỗ trợ của các nguồn lực bên ngoài trong quá trình tư vấn.
Một quan niệm khác lại cho rằng: Tư vấn là một mối quan hệ trong đó có một người cố gắng giúp người khác hiểu biết và giải quyết vấn đề cần được điều chỉnh của mình. Lĩnh vực cần điều chỉnh thường là trong tư vấn tâm lý giáo dục, tư vấn xã hội. Như vậy, tư vấn là một công việc hai chiều, quan hệ đến cả hai người: người tư vấn (tư vấn viên) và người được tư vấn (thân chủ). Định nghĩa được coi là có giá trị và được sử dụng khá phổ biến trong trường học là định nghĩa của nhà Tâm lý học Wrenn: Tư vấn là một cuộc đặt quan hệ có mục đích giữa hai người, trong đó các cách thức đối xử thường thay đổi theo tính chất nhu cầu của học sinh, nhưng luôn có sự tham gia tương hỗ giữa tư vấn viên và học sinh tập trung vào việc phân biệt (tự làm cho rõ ràng, trong sáng) và tự quyết định của học sinh.
Mặc dù có những quan niệm khác nhau về tư vấn, nhưng nhìn chung các quan điểm này đều thừa nhận tư vấn là một tiến trình định hướng học hỏi, hoàn thành một tương tác xã hội đơn giản, một người với một người. Trong đó tư vấn viên là người có nghiệp vụ cao với những kỹ năng thành thạo và hiểu biết, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9 http://www.vn tìm cách giúp thân chủ bằng những phương pháp thích hợp đối với nhu cầu thân chủ trong phạm vi tổng thể nghiên cứu về chính bản thân họ. Từ những phân tích trên, có thể khẳng định: Tư vấn là một hoạt động thông tin, là một tương tác xã hội giữa nhà tư vấn và người được tư vấn, trong đó nhà tư vấn đưa ra những lời khuyên hoặc các gợi ý giúp đối tượng cần tư vấn có được những thông tin và những tri thức cần thiết về những vấn đề mà họ quan tâm. * Tư vấn hướng nghiệp Công tác tư vấn hướng nghiệp cũng giống như định hướng nghề và tuyển chọn nghề được tiến hành trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định, có những quy luật phát triển đặc thù, đồng thời được xem là biện pháp tác động trực tiếp đến con người.
Tư vấn hướng nghiệp là một trong những nhân tố hình thành ở con người hệ thống thái độ đối với thế giới nghề nghiệp và đối với bản thân mình. Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà ở mỗi nước có cách nhìn và cách gọi khác nhau về tư vấn hướng nghiệp ví dụ như ở Mỹ, Canada thì gọi là “Hướng dẫn chọn nghề” hay “Hướng dẫn con đường mưu sinh” và cho rằng: “Hướng dẫn chọn nghề là quá trình giúp đỡ học sinh chọn nghề, là quá trình chuẩn bị cho học sinh đi làm, cũng tức là quá trình giúp con người có cơ thành đạt trong nghề”.