Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊNCHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng giáo viên và quản lý bồi dưỡng giáo viên Vấn đề BDTX cho đội ngũ GV là một trong những nhiệm vụ quan trọng để phát triển đội ngũ nhà giáo ngày càng có chất lượng đáp ứng được nhiệm vụ GD&ĐT trong tình hình mới, nhằm góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Vấn đề bồi dưỡng GV đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu và ở mọi cấp độ từ cấp Bộ đến cấp trường. Trong các nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng GV nói chung, BDTX cho đội ngũ GV nói riêng của các nhà khoa học có một số công trình như: cuốn “Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên” của Lê Trần Lâm [29], cuốn “Vấn đề giáo viên - Những nghiên cứu lí luận và thực tiễn” của Trần Bá Hoành [25].
Hai cuốn sách này dành một phần lớn dung lượng nói về công tác đào tạo BDGV ở Việt Nam cũng như những kinh nghiệm về đào tạo, bồi dưỡng GV ở một số nước châu Á, Đông Nam Á và ở Anh. Trong cuốn "Quản lý giáo dục tiểu học theo định hướng công nghiệp hóa -hiện đại hóa", các tác giả Hà Thế Truyền và Đặng Thị Thanh Huyền đã phân tích một trong những năng lực lãnh đạo trường học của hiệu trưởng đáp ứng yêu cầu đổi mới là: đẩy mạnh bồi dưỡng, phát triển chuyên môn cho đội ngũ giáo viên. Hiệu trưởng có kế hoạch tổ chức bồi dưỡng, hỗ trợ chuyên môn cho giáo viên; khuyến khích giáo viên tích cực học hỏi, thường xuyên dự giờ, trao đổi chia sẻ kinh nghiệm chuyên môn, thiết lập quy trình, công cụ giám sát, đánh giá khen thưởng hợp lý nhằm thúc đẩy giáo viên cải thiện, nâng cao chuyên môn [38, tr. Vấn đề bồi dưỡng giáo viên là hướng nghiên cứu của nhiều đề tài các cấp, như "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên phổ thông" của Nguyễn Thị Bình [18]; Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực 6 tiễn của việc đổi mới đào tạo giáo viên, đáp ứng yêu cầu giáo dục phổ thông trong thời kì CNH, HĐH và hội nhập quốc tế của Phan Trọng Ngọ [31]; Nghiên cứu giải pháp đổi mới quản lý đào tạo giáo viên ở các trường ĐHSP của Phạm Quang Huân [26].
Theo Nguyễn Thị Bình cùng nhóm tác giả đề tài "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên phổ thông", công tác quản lý hoạt động bồidưỡng phải được hoạch định về kế hoạch, mục tiêu, nội dung, phương thức tổ chứcvà các điều kiện triển khai hiệu quả. Hoạt động bồi dưỡng giáo viên phải được quản lý từ cấp trung ương đến cấp tỉnh, huyện, trường học. Trong đó, cấp Trung ương có vai trò đềxuất chủ trương, hoạch định chính sách, chiến lược, kiểm tra đánh giá, cấp tỉnh,huyện là cấp trung gian, cấp trường quản lý thao tác [18]. Đặc biệt, nghiên cứu của tác giả Phạm Đỗ Nhật Tiến trong cuốn sách "Đổi mới đào tạo giáo viên trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam" do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2013 đã phân tích xu thế và một số mô hình đổi mới, cải cách đào tạo GV trên thế giới, đồng thời đưa ra những quan điểm về đổi mới đào tạo, bồi dưỡng giáo viên ở Việt Nam theo định hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế [37].
Trong chương trình đào tạo thạc sỹ về QLGD tại các nhà trường, có khá nhiều luận văn nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng giáo viên và quản lý bồi dưỡng giáo viên. Có thể dẫn ra một số luận văn tiêu biểu nghiên cứu trực tiếp về vấn đề quản lý bồi dưỡng giáo viên ở cấp trung học cơ sở như: “Một số giải pháp tăng cường quản lí công tác bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ giáo viên THCS Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” của Phùng Thanh Kỷ (1998) [28]; “Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng GV của Hiệu trưởng các trường THCS thành phố Hạ Long- tỉnh Quảng Ninh” của Nguyễn Thị Nguyệt Quế (2010) [34]; “Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở theo CNN trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” của Trương Thị Thảo (2012) [35]; “Biện pháp bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trung học cơ sở thành phố Sơn La tỉnh Sơn 7 La” của Lưu Thị Thơm (2010) [36]; “Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THCS của Phòng GD&ĐT huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình” của Vũ Hồng Quân (2014) [33]. Các luận văn này đã phân tích thực trạng và đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV phù hợp với đặc trưng điều kiện kinh tế - xã hội từng vùng, miền trên địa bàn từng tỉnh, thành phố và giai đoạn triển khai. Trên các tạp chí chuyên ngành hay trong các Hội thảo, nhiều bài viết về vấn đề bồi dưỡng GV theo chuẩn năng lực đáp ứng yêu cầu đổi mới hay nâng cao chất lượng bồi dưỡng GV đã được công bố, như: "Một số giải pháp bồi dưỡng GV đáp ứng yêu cầu đổi mới nền giáo dục" của Nguyễn Đức Vũ [40]; "Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng đội ngũ GV THPT miền núi" của Nguyễn Tiến Phúc [32]; "Chất lượng bồi dưỡng GV THPT - thực trạng và giải pháp" của Phạm Thị Kim Anh [15]; "Phát triển nghiệp vụ cho GV Việt Nam dựa trên nhu cầu và chuẩn năng lực" của Nguyễn Thị Ngọc Bích [17].
Trong bài viết "Vấn đề bồi dưỡng GV phổ thông hiện nay - Thực trạng và giải pháp", tác giả Phạm Thị Kim Anh đã tập trung trình bày về thực trạng bồi dưỡng GV phổ thông hiện nay từ nội dung đến cách thức tổ chức, hình thức, phương pháp bồi dưỡng; nêu ra những kết quả đã đạt được cũng như chỉ rõ những bất cập, hạn chế, yếu kém của công tác bồi dưỡng GV. Từ đó, bài viết đưa ra những biện pháp để đổi mới, nâng cao chất lượng bồi dưỡng GV [15]. Ngoài các nghiên cứu về bồi dưỡng giáo viên nói chung, còn có các công trình nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng một năng lực cụ thể nào đó cho giáo viên. Luận án Quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên trường trung học phổ thông theo chuẩn nghề nghiệp của Trần Thị Hải Yến [41]; Luận án Quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên trung học cơ sở Thành phố Hà Nội của Nguyễn Thị Tuyết [39].
Các công trình này đã nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng về giáo viên, bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viện và quản lý bồi 8 dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên.Từ đó, đề xuất các biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Nhìn chung, các nghiên cứu đã tập trung nêu lên thực trạng cũng như biện pháp để đổi mới công tác bồi dưỡng GV sao cho có hiệu quả. Chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp về vấn đề quản lý hoạt động bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên trung học cơ sở ở huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.Những công trình có liên quan của các tác giả đi trước là tài liệu tham khảo quý báu để tác giả thực hiện đề tài này. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1.
Quản lý Dưới các góc độ tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau. Tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [16, tr. Tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [27, tr. Tác giả Bùi Minh Hiền cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [24, tr.
Các khái niệm về quản lý vừa trình bày ở trên có một điểm đồng nhất là đều đề cập đến tác động của chủ thể quản lý để đưa tổ chức đạt được các mục tiêu với hiệu quả cao. Hiệu quả của công tác quản lý cao hay thấp hoàn toàn phụ thuộc vào mối quan hệ qua lại nhiều chiều giữa các yếu tố chủ thể quản lý - khách thể quản lý - mục đích hướng đến bằng các phương pháp quản lý khoa học, công cụ quản lý phù hợp. 9 Như vậy, dù diễn đạt bằng cách nào thì Quản lý cũng bao gồm một số nội dung cơ bản sau: - Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, có lựa chọn dựa trên thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường (bao gồm môi trường tự nhiên và xã hội) nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển đạt mục đích định trước. - Cũng như lao động, quản lý và nói đúng hơn hoạt động quản lý là một trong những thuộc tính của xã hội loài người.
Nhờ nó mà xã hội luôn vận hành và phát triển đúng hướng, đúng qui luật. Trong hoạt động quản lý xã hội nói chung, con người là chủ thể đóng vai trò trung tâm dù họ là người quản lý hay người bị quản lý. Nói cách khác, bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển) có mục đích và hợp qui luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức (nhóm, cộng đồng, tập thể, xã hội) nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục đích và hiệu quả mong muốn. Bồi dưỡng, bồi dưỡng thường xuyên a.
Bồi dưỡng Thuật ngữ “bồi dưỡng” là một từ ghép Hán - Việt.“Bồi” là vun vào, đắp vào, thêm vào; “dưỡng” là nuôi, nuôi nấng, nuôi dưỡng. Bồi dưỡng là làm tăng năng lực và phẩm chất [30]. Nguyễn Minh Đường quan niệm: Bồi dưỡng là quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ [20,tr.13] Theo Unesco, bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp.