mở đầu, phần phát triển và kết thúc, nhằm thể hiện một chủ đề tư tưởng cụ thể, những chương trình này thường được tổ chức trong các 13 cuộc liên hoan, hội thi, hội diễn, những ngày kỷ niệm quan trọng của địa phương, của đất nước, của các ngành, các cấp. Những hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên của cá nhân, nhóm nghệ sĩ tại cộng đồng thường mang tính tự phát, ngẫu hứng và có thể không tuân theo kịch bản có sẵn, mang tính tương tác cao đối với người thưởng thức. Những hoạt động này thường thu hút sự hiếu kỳ của người dân không bởi sự quy mô, hoành tránh mà bởi tính lạ với những hình thức biểu đạt ít xuất hiện, như một nghệ sĩ đánh ghi ta, kéo violon hay một nhóm nghệ sĩ vẽ tranh tường, trình diễn nghệ thuật sắp đặt,… Những người tham gia biểu diễn những hoạt động này được gọi là “nghệ sĩ không chuyên”, đây là danh xưng để gọi những người tham gia các hoạt động sáng tác, biểu diễn vào thời gian nhàn rỗi. Nghệ sĩ không chuyên có nguồn sống chính không phải từ hoạt động nghệ thuật.
Đối với hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên thường có những đặc điểm sau: - Do kinh phí hạn chế và mang tính chất quần chúng nên kịch bản và diễn viên tham gia chương trình thường là sự tự nguyện của người dân (cũng có thể có sự tham gia của đạo diễn, diễn viên chuyên nghiệp). - Việc dàn dựng, luyện tập trong thời gian ngắn, phát huy những nhân tố có khả năng diễn xuất, văn nghệ trong cộng đồng. - Những phương tiện phục vụ cho chương trình thường tận dụng mức tối đa hiện có và huy động trong dân. - Địa điểm biểu diễn thường diễn ra tại công viên, quảng trường, không gian công cộng… - Một số kịch bản sân khấu mang tính địa phương, nơi diễn ra chương trình.
14 - Chi phí cho một chương trình không lớn, diễn viên không chuyên dù không có kỹ thuật biểu diễn tốt nhưng trong từng tiết mục có sự lột tả chân thật nội tâm nên gây cảm xúc thật đến khán giả. - Khán giả tham dự những buổi biểu diễn nghệ thuật không chuyên là người dân trên địa bàn, là những bà con, anh em thân thiết đối với diễn viên với tiết mục thường rất hào hứng đến xem, dễ chấp nhận, bỏ qua khiếm khuyết của sự thiếu chuyên nghiệp. Để làm rõ hơn hai khái niệm “biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp” và “biểu diễn nghệ thuật không chuyên”, chúng tôi lập bảng so sánh cụ thể như sau: Bảng 1: Bảng so sánh giữa biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp và không chuyên Nội dung Biểu diễn nghệ thuật Biểu diễn nghệ thuật không chuyên nghiệp chuyên Người tham Các cá nhân thuộc các cơ Cá nhân, nghệ sĩ tự do (nhiều gia sở, đoàn nghệ thuật hoạt động có sự tham gia của chuyên nghiệp. nghệ sĩ chuyên nghiệp).
Danh xưng Nghệ sĩ chuyên nghiệp. Nghệ sĩ không chuyên. Tính chất Có kế hoạch, bài bản. Phụ thuộc nhiều vào tính ngẫu tham gia hứng.
Yếu tố Biểu diễn có hợp đồng và Không đặt yếu tố thương mại thương mại nộp thuế cho nhà nước. lên hàng đầu và không phải nộp thuế. Hình thức Khá tương đồng giữa hai loại hình biểu diễn như: âm nhạc, biểu diễn mỹ thuật, trình diễn, tạp kỹ,… Qui mô, kịch bản dàn Qui mô, kịch bản phù hợp với dựng công phu, có tính những trình diễn ở mức độ hoành tráng. nhỏ và vừa.
15 Chế tài Phải xin phép cơ quan Thông báo trước cho cơ quan QLVH nơi biểu diễn. QLVH nơi biểu diễn. Theo Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 5 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ và Nghị định số 15/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2016 của Chính phủ. Đặt đối tượng nghiên cứu là nghệ thuật không chuyên trong không gian nghiên cứu ở quận Hoàn Kiếm thì càng thấy được ý nghĩa của nó, bởi quận Hoàn Kiếm có vị trí trung tâm của thủ đô Hà Nội, với nhiều nét đặc trưng của văn hóa thủ đô.
Mặt khác, không gian đi bộ xung quanh quận Hoàn Kiếm, trọng tâm nghiên cứu của đề tài, khá phù hợp cho những hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên của cộng đồng và dành cho chính cộng đồng. Hay nói cách khác, đối tượng nghiên cứu và không gian nghiên cứu của đề tài khá tiêu biểu và kết quả nghiên cứu của đề tài đáp ứng phần nào sự quan tâm của xã hội. Thậm chí, nếu xét theo tính chất thì một số hoạt động biểu diễn nghệ thuật trong lĩnh vực âm nhạc có nghệ sĩ chuyên nghiệp thực hiện như LUALA concert được biểu diễn ở khu vực vỉa hè Lý Thái Tổ, do nghệ sĩ biểu diễn thuộc dàn nhạc giao hưởng Việt Nam, nhưng không thu tiền và biểu diễn theo tính chất giới thiệu dòng nhạc thính phòng, giao hưởng đến với đông đảo người dân cũng được xem như là hình thức biểu diễn nghệ thuật không chuyên. Cũng như vậy, một số triển lãm ảnh được thực hiện bởi một số nghệ sĩ nhiếp ảnh chuyên và không chuyên được thực hiện tại không gian xung quanh hồ Hoàn Kiếm và được trưng bày trong không gian tuyến phố đi bộ, nhằm quảng bá về đất nước/ con người với khách du lịch, người dân thủ đô, cũng được xem là hình thức trình diễn nghệ thuật không chuyên cũng chính bởi tính chất riêng biệt của nó.
Thậm chí, một số dạng thức thực hành như nghệ thuật trình diễn, sắp đặt của nghệ sĩ đương đại cũng được xem là hình thức biểu diễn nghệ thuật không chuyên. Quản lý văn hóa và cơ sở pháp lý trong quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên 1. Quản lý văn hóa Hoạt động văn hóa là một dạng hoạt động xã hội quan trọng, tất yếu phải có sự quản lý của nhà nước. Do đó, quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa là tất yếu khách quan, được thực hiện bằng hệ thống luật pháp và các chính sách liên quan đến sự phát triển văn hóa.
Tùy theo mỗi quốc gia, tùy theo truyền thống văn hóa của mỗi nước, mà có những cách thức quản lý khác nhau. Nội dung, phương thức, cách thức, biện pháp để quản lý văn hóa cũng có sự thay đổi, bổ sung, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển. Có thể hiểu khái niệm “Quản lý nhà nước về văn hóa” là sự quản lý của một Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của Nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách, nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc. Quản lý nhà nước về văn hóa có một số đặc điểm sau: Một là, khẳng định quyền lực của nhà nước trong quá trình xây dựng, phát triển sự nghiệp văn hóa cũng như nhằm đảm bảo mục tiêu của hệ thống chính trị nói chung của nhà nước nói riêng.
Hai là, quản lý nhà nước về văn hóa còn là sự định hướng, tạo điều kiện, tổ chức, điều hành của nhà nước, làm cho văn hóa phát triển theo hướng có ích cho con người, giúp cho xã hội không ngừng đi lên theo hướng: văn hóa thuộc về nhân dân, mọi người dân đều có quyền hưởng thụ văn hóa và có nghĩa vụ đóng góp để bảo vệ văn hóa dân tộc. Ba là, quản lý nhà nước về văn hóa thực chất nhằm mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tạo điều kiện để văn hóa trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường 17 văn hóa lành mạnh cho sự phát triển. Bốn là, quản lý nhà nước về văn hóa còn là tạo điều kiện cho văn hoá phát triển hài hòa và nhịp nhàng giữa các yếu tố của bản thân văn hóa và trong quan hệ giữa văn hóa với kinh tế, chính trị xã hội. Năm là, khuyến khích mọi người hoạt động văn hóa theo đúng quỹ đạo, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước, tạo sự đồng thuận lợi cho mọi người các quyền đã ghi trong hiến pháp, các văn bản luật của nhà nước ban hành.
Đồng thời, tạo sự dân chủ, bình đẳng về hoạt động và hưởng thụ văn hóa trong nhân dân. Như vậy, có thể hiểu quản lý nhà nước về văn hóa là quản lý toàn bộ các hoạt động văn hóa diễn ra trên phạm vi toàn lãnh thổ quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách, tạo điều kiện và đảm bảo cho nền văn hóa phát triển. Quản lý về văn hóa trong giai đoạn hiện nay nhằm mục tiêu xây dựng và phát nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tạo điều kiện để nền văn hóa mà chúng ta đang xây dựng thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, thực hiện phương hướng nêu trong Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII): làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Cơ sở pháp lý trong quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên Công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật quần chúng (không chuyên) đã được đề cập đến trong một số thông tư, nghị định sau: 18 Năm 2012, Nghị định số 79/NĐ-CP ngày 5/10/2012 quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu.
Tại điều 15 đã qui định rõ về “Biểu diễn nghệ thuật quần chúng”: 1.