phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc bố cục thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất tại Cục hải quan tỉnh Hà Giang Chƣơng 4: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất tại Cục hải quan tỉnh Hà Giang. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA KINH DOANH TẠM NHẬP, TÁI XUẤT 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa là hình thức kinh doanh thƣơng mại theo thông lệ quốc tế đã đƣợc thực hiện nhiều năm tại Việt Nam nhƣng quản lý hải quan đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa là chủ đề chƣa đƣợc nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách quan tâm nên đến nay chƣa có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý Nhà nƣớc về hải quan đối với loại hình kinh doanh xuất nhập khẩu này. Đây chính là một trong những trở ngại về nguồn tài liệu tham khảo đối với học viên khi viết luận văn này.
Dƣới đây là một số công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa tại Việt Nam: - Nghiên cứu công ước ATA để triển khai áp dụng cho nghiệp vụ tạm nhập tái xuất tại Việt Nam, tác giả Đỗ Mai Trang, luận văn Thạc sỹ Luật, năm 2012. Đây là công trình nghiên cứu dƣới dạng luận văn thạc sỹ luật. Trên cơ sở nghiên cứu nội dung của công ƣớc quốc tế về tạm quản hàng hóa (Công ƣớc ATA), tác giả đã nhận định, phân tích, đánh giá thực trạng thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm nhập-tái xuất tại Việt Nam hiện nay và đề xuất giải pháp để ngành hải quan thực thi có hiệu quả góp phần hoàn thiện những nội dung cơ bản của pháp luật về quản lý hải quan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. - Nghiên cứu công tác quản lý hoạt động tạm nhập tái xuất hàng hóa tại chi cục hải quan cửa khẩu Móng Cái - Quảng Ninh, tác giả Nguyễn Mạnh Cƣờng, Luận văn Thạc sỹ, năm 2013.
4 Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hải quan đối với hoạt động tạm nhập, tái xuất hàng hóa tại cấp chi cục hải quan cửa khẩu, cụ thể là cửa khẩu Móng Cái thuộc Cục hải quan tỉnh Quảng Ninh, tác giả đã chỉ rõ các yếu tố ảnh hƣởng đến công tác quản lý trên địa bàn cửa khẩu và đề xuất giải pháp để thực hiện tốt hơn công tác quản lý trong thời gian tới tại chi cục hải quan cửa khẩu Móng Cái. - Hệ thống tạm quản hàng hóa-công cụ tạo thuận lợi thương mại, tác giả Minh Minh, tạp chí nghiên cứu Hải quan số 10, năm 2006. Trong bài viết này, tác giả đã giới thiệu và nêu những nội dung chính của hệ thống tạm quản hàng hóa theo công ƣớc quốc tế về tạm quản hàng hóa- Công ƣớc ATA, phân tích những lợi ích khi áp dụng hệ thống tạm quản trong quản lý hàng hóa tạm nhập, tái xuất của cơ quan hải quan. - Đề án giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hải quan đối với hàng kinh doanh tạm nhập- tái xuất, Tổng cục Hải quan, năm 2013.
Đề án đã hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác quản lý hải quan đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất của Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất tại một số tỉnh, thành phố lớn, đề án đƣa ra các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập- tái xuất, tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời đảm bảo quản lý chặt chẽ đúng quy định của Nhà nƣớc, chống thất thu thuế, chống thẩm lậu hàng hóa tạm nhập vào thị trƣờng trong nƣớc, góp phần bảo vệ an ninh kinh tế và quyền lợi ngƣời tiêu dùng ở cấp Tổng cục hải quan. Những công trình nghiên cứu kể trên đã hệ thống hoá, làm sáng tỏ những vấn đề về mặt lý luận và thực tiễn có liên quan về quản lý hải quan đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa và đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau cũng nhƣ thực tế công tác quản lý của nhiều địa phƣơng khác nhau. 5 Các nghiên cứu kể trên đã có những đóng góp nhất định trong hoạch định chính sách và giải pháp quản lý về kinh tế nói chung và ngành Hải quan nói riêng.
Tuy nhiên, từng giai đoạn phát triển kinh tế, mỗi địa phƣơng cũng có vị trí địa lý, điều kiện kinh tế xã hội, trình độ phát triển riêng biệt và vì thế không có giải pháp hiệu quả cho tất cả các giai đoạn phát triển và các địa phƣơng khác nhau. Do đó, đề tài này sẽ đáp ứng yêu cầu đòi hỏi thực tiễn của công tác quản lý hải quan đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa trong bối cảnh hiện nay tại Cục hải quan tỉnh Hà Giang. Cơ sở lý luận về quản lý hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất 1. Khái quát về quản lý hải quan đối với hàng hóa tạm nhập, tái xuất 1.
Khái niệm - Khái niệm tạm nhập, tái xuất: Tạm nhập- tái xuất là phƣơng thức kinh doanh lâu đời, phổ biến trên thị trƣờng quốc tế và đã đƣợc thực hiện nhiều năm qua ở nƣớc ta. Thuật ngữ “tạm quản” đã đƣợc định nghĩa trong Công ƣớc quốc tế về tạm quản hàng hóa (Istanbul-1990) là chế độ hải quan mà theo đó một số hàng hoá (bao gồm cả các phƣơng tiện vận tải) đƣợc nhập vào lãnh thổ hải quan mà không phải đóng thuế nhập khẩu và các loại thuế khác và không bị áp dụng các hạn chế hay cấm nhập khẩu đối với các loại hàng mang tính chất kinh tế kể cả các phƣơng tiện vận tải đƣợc nhập với mục đích rõ ràng và sẽ tái xuất trong thời hạn xác định mà không bị làm thay đổi, cải biến trừ trƣờng hợp giảm giá trị thông thƣờng do quá trình sử dụng; Tại Phụ lục G Công ƣớc quốc tế về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hải quan (Công ƣớc Kyoto) sửa đổi giải thích: “tạm nhập” là thủ tục hải quan mà theo đó một số loại hàng hóa nhất định có thể đƣa vào biên giới hải quan một cách có điều kiện và có thể đƣợc miễn toàn bộ thuế hoặc một phần 6 thuế nhập khẩu và các loại thuế khác; ví dụ hàng hóa nhập khẩu phục vụ mục đích đặc biệt và phải đƣợc tái xuất trong một khoảng thời gian nhất định mà không đƣợc thay đổi hàng hóa trừ khi những khấu hao thông thƣờng do nguyên liệu làm nên sản phẩm; Ở Việt Nam, năm 2005 khi Luật thƣơng mại đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 thay thế cho Luật Thƣơng mại (1997) thì hoạt động này mới chính thức đƣợc coi là một hoạt động kinh tế trong tổng thể nền kinh tế quốc dân. Tại Điều 29 Luật Thƣơng mại quy định: “Tạm nhập tái xuất hàng hóa là việc hàng hoá đƣợc đƣa từ nƣớc ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam đƣợc coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam”. [20 ] Từ đó ta có thể hiểu tạm nhập tái xuất là hình thức doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa nhƣng không phải để tiêu thụ tại thị trƣờng trong nƣớc mà là để xuất khẩu sang một nƣớc khác nhằm thu lợi nhuận.
Những mặt hàng này không đƣợc gia công hay chế biến tại nơi tái xuất. Hàng hóa vừa phải làm thủ tục nhập khẩu vừa phải làm thủ tục xuất khẩu sau đó. Khác với các phƣơng thức kinh doanh XNK khác, trong phƣơng thức kinh doanh tạm nhập, tái xuất đƣợc thực hiện trên cơ sở hai hợp đồng riêng biệt là hợp đồng nhập khẩu và hợp đồng xuất khẩu do thƣơng nhân Việt Nam ký với thƣơng nhân nƣớc ngoài. Hợp đồng xuất khẩu có thể ký trƣớc hoặc ký sau hợp đồng nhập khẩu.
[11] * Phân biệt phƣơng thức kinh doanh tạm nhập tái xuất hàng hóa với chuyển khẩu và quá cảnh hàng hóa: Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng từ một nƣớc, vùng lãnh thổ để bán sang một nƣớc, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ 7 tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam. Chuyển khẩu hàng hóa đƣợc thực hiện theo các hình thức nhƣ: Hàng hóa đƣợc vận chuyển thẳng từ nƣớc xuất khẩu đến nƣớc nhập khẩu không qua cửa khẩu Việt Nam; hàng hóa đƣợc vận chuyển từ nƣớc xuất khẩu đến nƣớc nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam nhƣng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam; hàng hóa đƣợc vận chuyển từ nƣớc xuất khẩu đến nƣớc nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam và đƣa vào kho ngoại quan, khu vực trung chuyển hàng hoá tại các cảng Việt Nam, không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam. Quá cảnh hàng hóa là việc vận chuyển hàng hóa thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài qua lãnh thổ Việt Nam, kể cả việc trung chuyển, chuyển tải, lƣu kho, chia tách lô hàng, thay đổi phƣơng thức vận tải hoặc các công việc khác đƣợc thực hiện trong thời gian quá cảnh. [ 20] - Khái niệm quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất: Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực để đạt đƣợc các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật.