Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên Chương 2: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên các trung tâm GDTX cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Chương 3: Những biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên các trung tâm GDTX cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo và mục lục 10. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nghị quyết TW khóa VIII da nêu: “Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn hóa ĐNGV cũng như cán bộ QLGD”. Trong chiến lược phát triển giáo dục 2001 — 2010 của Chính phủ cũng nêu rõ: “Phat triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục” [3]. Những năm gần đây Đảng, Nhà nước còn có nhiều các Chỉ thị, Nghị quyết, các chế độ chính sách để quan tâm tới đội ngũ giáo viên.
Điều mong muốn là đất nước ta trở thành một xã hội học tập, trong đó đội ngũ thầy cô giáo có năng lực, trình độ ngang tầm với sự phát triển của thời đại Xuất phát từ những chủ trương có định hướng đó, nhiều công trình nghiên cứu về ĐNGV đã được triển khai và gần đây cũng đã có một số đề tài khoa học. nghiên cứu về việc xây dựng, phát triển và nâng cao chất lượng ĐNGV của các trường và các cơ sở GD&ĐT như các luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sỹ quản lý giáo dục của các tác giả sau: - Nguyễn Xuân Hường: “Một số giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên Trường trung học Phòng Không” - Năm 2000. - Đỗ Ngọc Mỹ - TP.Hồ Chí Minh: “Một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên” - Năm 2002. - Nguyễn Thị Hồng Hoa: “Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng trường Tiểu học ở thành phố Hồ Chí Minh và một số biện pháp nâng cao chất lượng quản lý đó” - Năm 2005 Các đề tài nói trên đã nghiên cứu rất nhiều khía cạnh khác nhau trong công, tác quản lý cũng như phát triển ĐNGV nói chung.
Tuy nhiên, chưa có những nghiên cứu sâu về thực trạng quản lý ĐNGV của Giám đốc các trung tâm GDTX cấp huyện từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng ĐNGV các trung tâm GDTX cấp huyện đáp ứng yêu cầu hiện nay. Vì vậy đề tài luận văn thạc sĩ “Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi”, sẽ có những nét riêng phù hợp với địa phương nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở các trung tâm GDTX cấp huyện tỉnh Quảng Ngãi. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 1. TONG QUAN VE VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU Trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định giáo dục và đảo tạo là quốc sách hàng đầu, là những chính sách trọng tâm, có vai trò chính yếu của Nhà nuớc, được ưu tiên trước nhất, thậm chí đi trước.
một bước so với các chính sách phát triển kinh tế- xã hội khác. Sự nghiệp giáo dục đào tạo của nước ta đang đứng trước những thách thức lớn lao và có nhiệm vụ mang tính lịch sử. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục- đào tạo trở thành mục tiêu, động lực quan trọng của toàn bộ đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ Hội nghị TW2 khóa VIII, Đảng ta đã chỉ rõ: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh” [4].
Luật giáo dục năm 2005 cũng khẳng định: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng”. Chính vì thế, để giáo dục đáp ứng với yêu cầu đôi mới hiện nay thì việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Đội ngũ giáo viên là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước ta. Việc quản lý phát triển đội ngũ giáo viên đã trở thành nhiệm vụ trọng tâm, cấp thiết vì ““Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặc biệt chăm lo đào tạo và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên cũng như đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục cả về chính trị, tư tưởng đạo đức và năng lực chuyên môn nghiệp vụ”.
Những nhà nghiên cứu giáo dục và quản lý giáo dục rất quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Trong bài viết “Chất lượng giáo viên” đăng trên Tạp chí Giáo dục tháng 11 năm 2001 của tác giả Trần Bá Hoành đã đề xuất cách tiếp cận chất lượng giáo viên từ nhiều khía cạnh như: “Đặc điểm lao động của người giáo viên, sự thay đổi chức năng của người giáo viên trước yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu sử dụng giáo viên, chất lượng giáo viên và chất lượng ĐNGV, các thành tố tạo nên chất lượng giáo viên là phẩm chất và năng lực ” [10]. Theo tác giả Trần Bá Hoành, phẩm chất của người giáo được thể hiện ở thế giới quan, lòng yêu nghề, mến trẻ; năng. lực của giáo viên bao gồm: Năng lực chuẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng dạy học, năng lực thiết ế hoạch, năng lực tô chức thực hiện kế hoạch dạy học, năng lực quan sát, đánh giá kết quả các hoạt động dạy học, năng lực giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tế dạy học.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo viên là: Quá trình đào tạo, sử dụng và bồi dưỡng. giáo viên; hoàn cảnh, điều kiện lao động sư phạm của giáo viên; ý chí thói quen và năng lực tự học của giáo viên. Các tác giả như Đặng Quốc Bảo; Trần Ki ; Nguyễn Thị Mỹ Lộc; Phạm Minh Hạc.và các nhà khoa học khác đã có những công trình nghiên cứu xác định được những vấn đề phát triển nguồn nhân lực, các nội dung về xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên cũng được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu có giá trị. Ngoài ra còn có luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sỹ quản lý giáo dục của các tác giả như: Lã Thị Oanh: “Một số biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu” - Năm 2007, tác giả Lê Trung Chỉnh: “Phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông thành phó Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay”- Năm 2015.
Việc quản lý phát t đội ngũ giáo viên ở các trung tâm GDTX cấp huyện để đáp ứng yêu cầu đôi mới hiện nay là một vấn đề tương đối mới và cần thiết khi nhận thức của xã hội về giáo dục thường xuyên ngày càng tích cực hơn. Những thay đồi về hình thức, nội dung, chương trình, vai trò của giáo dục 10 thường xuyên trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi người quản lý phải quan tâm đến việc chăm lo, quản lý phát triển đội ngũ nói chung và đội ngũ giáo viên nói riêng để đáp ứng với những yêu cầu xã hội trong thời kỳ đổi mới. 'Những nghiên cứu về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện ở tỉnh Quảng Ngãi có lẽ chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐÈ TÀI 1.
Quản lý Nhận thức của con người về quản lý rất phong phú, đa dạng. Ngày nay thuật ngữ quản lý trở nên phổ biến có thể trích dẫn một só định nghĩa về quản lý như sau: Theo An Napu E. F: “Quản jÿý là một hệ thống XHCN, là một khoa học và là một nghệ thuật tác động vào một hệ thống xã hội, chủ yếu là quản lý con người nhằm đạt được những mục tiêu xác định. Hệ thống đó vừa động, vừa ổn định bao gôm nhiễu thành phân có tác động qua lại lẫn nhau” [7].
Paul Hersey và Ken Blanc Harh tiếp cận quản lý theo tình huống quan. niệm rằng không có một phương thức quản lý và lãnh đạo tốt nhất cho mọi tình huống khác nhau. Người quản lý sẽ lựa chọn phương pháp quản lý căn cứ vào tình huống cụ thể. Quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong điều kiện môi trường biến đổi.
Nhóm tác giả Bùi Minh Hiền - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo cho. rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đẻ ra” [9] Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lí) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [16]. HH QL là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền. Biểu hiện cụ thể qua việc, lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát.
Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt động nào đó; điều tiết được nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận. Như vậy: “Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật Quản lý là một hệ thống mở mà bản chất của nó là sự phối hợp các nỗ lực của con người thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý. Hoạt động quản lý vừa có tính chất khách quan, vừa mang tính chủ quan, vừa có tính pháp luật Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi, .chúng là những mặt đối lập trong một hệ thống nhất. Đó là biện chứng và bản chất của hoạt động quản lý”.
Quản lý nguồn nhân lực Nguôn nhân lực là nguồn lực con người, là tiềm năng lao động của mỗi người trong một thời gian nhất định, nguồn nhân lực là động lực nội sinh quan trọng nhất, được nghiên cứu tập trung vào số lượng và chất lượng, trong đó trí tuệ, thể lực và phâm chất đạo đức, kỳ năng nghề nghiệp và sự tương tác giữa các cá nhân trong cộng đồng. Quản lý nguồn nhân lực chính là quản lý tập thể người và các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tổ chức mà họ làm việc.