Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục phát triển tình cảm, kĩ năng xã hội cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non theo hướng trải nghiệm. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phát triển tình cảm, kĩ năng xã hội cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non Thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh theo hướng trải nghiệm. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phát triển tình cảm, kĩ năng xã hội cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh theo hướng trải nghiệm.
7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN TÌNH CẢM, KĨ NĂNG XÃ HỘI CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TẠI TRƢỜNG MẦM NON THEO HƢỚNG TRẢI NGHIỆM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về hoạt động giáo dục phát triển tình cảm, kỹ năng xã hội cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non theo hướng trải nghiệm Nghiên cứu hoạt động giáo dục ở trường mẫu giáo thực hành Lịch sử phát triển giáo dục có thể chia thành nhiều giai đoạn và ở mỗi giai đoạn đều xuất hiện những tư tưởng giáo dục tiêu biểu của các nhà giáo dục. Khái niệm hoạt động trải nghiệm chỉ được thể hiện rõ ràng nhất trong nền giáo dục hiện đại.
Tuy nhiên, các nhà giáo dục ở các giai đoạn lịch sử trước đây vẫn còn nhiều quan điểm, đánh giá, nhận định về lĩnh vực này trong tư duy sư phạm của mình. Trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, giáo dục không ngừng được cập nhật về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức. Nhiều đổi mới trong giáo dục đã tạo ra những bước ngoặt rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Ở Việt Nam, khi đất nước mới giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã động viên người tài, đức tốt bằng câu nói: “Học tập gắn liền với thực tiễn, giáo dục là trường học gắn liền với hoạt động sản xuất”.
Tôi đã nêu rõ cách phát triển. Bác Hồ từng nói: Phương châm giáo dục đã được nêu rõ: “Giáo dục phải có hoàn cảnh, điều kiện” và “Một chương trình nhỏ thực hiện được còn hơn 100 chương trình lớn không thể thực hiện được”. Lý thuyết gắn liền với thực tiễn, lý thuyết gắn liền với thực tiễn. Cuộc Cải cách giáo dục lần thứ hai (1956) nêu rõ mục tiêu của cải cách giáo dục là “khuyến khích một thế hệ thanh niên, trẻ em phát triển về mọi mặt, trở thành những công dân tốt, trung thành với quê hương, làm người lao động tốt”.'' , một nhà điều hành tốt.
Người có tài, có đức để xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phương châm giáo dục là lý luận thực tiễn gắn kết chặt chẽ nhà trường với đời sống xã hội. Cuộc Cải cách giáo dục lần thứ ba (1979) nêu rõ mục tiêu cơ bản của giáo dục là thực 8 hiện tốt hơn các nguyên tắc giáo dục kết hợp giữa học và hành, dạy và làm việc hiệu quả, thực nghiệm khoa học. Kể từ cuộc Cải cách giáo dục lần thứ ba, các hình thức giáo dục tích cực đã chính thức xuất hiện dưới những cái tên như hoạt động giáo dục ngoại khóa và hoạt động trải nghiệm, đồng thời một lượng lớn tài liệu và nghiên cứu đã được tiến hành về chúng.
Viện Khoa học Giáo dục (1979) đã thực hiện một dự án nghiên cứu có hiệu quả cao về chủ đề “hoạt động trải nghiệm và phát triển nhân cách của học sinh”. Từ năm 1979, các nhà nghiên cứu tại Viện Khoa học Giáo dục trong đó có Nguyễn Dục Quang và Đặng Thúy Anh đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm nhằm cải tiến nội dung và phương pháp tổ chức nhằm nâng cao chất lượng hoạt động trải nghiệm. Sau đó, các tác giả như Lê Trung Trần, Nguyễn Lê Đắc, Nguyễn Dục Quang, Hoàng Mạnh Phú, Hà Nhật Thăng đã tiến hành hàng loạt nghiên cứu lý luận nhằm cung cấp cơ sở lý luận cho hoạt động trải nghiệm. Trong đề án chương trình tổng thể giáo dục phổ thông từ năm 2015, “Hoạt động giáo dục trải nghiệm là việc mỗi học sinh trực tiếp tham gia vào các hoạt động thực tiễn ở nhà trường và xã hội dưới sự hướng dẫn của học sinh, phát triển cảm xúc, đạo đức, kỹ năng và phát triển nhân cách”.
hoạt động giúp học sinh có được những kinh nghiệm quý báu.” Hoạt động trải nghiệm rất quan trọng trong bất kỳ môn học nào. Đồng thời, kế hoạch giáo dục còn quy định các hoạt động trải nghiệm cá nhân. Mỗi hoạt động này đều tích hợp nhiều môn học, kiến thức và kỹ năng khác nhau [12, tr. Dự án Đổi mới cơ bản và toàn diện trong giáo dục nêu rõ: Hoạt động trải nghiệm góp phần hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực chung của học sinh, đặc biệt là trách nhiệm đối với bản thân, dân tộc, nhân loại và môi trường tự nhiên.
Kỹ năng độc lập, tự chủ và tự tin, sáng tạo, hợp tác và giao tiếp. Hoạt động trải nghiệm là môi trường giúp học sinh trải nghiệm mọi điều đã học trong lĩnh vực, chủ đề mình quan tâm và áp dụng những kiến thức đã học ở trường vào đời sống, từ đó kết nối các kỹ năng với cuộc sống. Nói cách khác, đó là đào tạo một lớp người mới có năng lực chuyên môn và có khả năng thích ứng cao với những thay đổi trong cuộc sống [10, tr. Phụ lục 2 hoạt động thực nghiệm đính kèm: “Định hướng xây dựng chương trình thạc sĩ giáo dục phổ thông (Dự 9 thảo)” do Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố năm 2014 nêu rõ: Hoạt động thử nghiệm đặc biệt được chấp nhận ở nhiều nước.
Các quốc gia đang thực hiện các chương trình giáo dục phổ thông nhằm phát triển kỹ năng học tập. Tập trung vào giáo dục nhân văn, giáo dục sáng tạo, giáo dục cảm xúc có chất lượng và kỹ năng xã hội [12, trang 3]. Có rất nhiều công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến hoạt động trải nghiệm nói chung và hoạt động trải nghiệm trong nhà trường nói riêng. Bao gồm các: Sách hướng dẫn hoạt động thực hành dành cho học sinh tiểu học của tác giả Nguyễn Quốc Vượng và Lê Xuân Quang nêu bật những nét cơ bản và hướng dẫn cụ thể theo chủ đề cách tổ chức hoạt động thanh niên hiệu quả.
Một số tác giả nghiên cứu hoạt động trải nghiệm cho học sinh ở các lứa tuổi khác đều cho thấy những hoạt động này thực sự mang lại hiệu quả. Năm 2015, tác giả Đinh Thị Kim Toa xuất bản Tài liệu rèn luyện kỹ năng: Xây dựng và tổ chức hoạt động trải nghiệm ở trường - Chương trình dành cho trung học. Phát triển Giáo dục - Bộ Giáo dục và Đào tạo [33]. Vì vậy, mặc dù đã có nhiều tác giả nghiên cứu hoạt động trải nghiệm ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng vẫn chưa có nghiên cứu nào về việc tổ chức, quản lý hoạt động trải nghiệm ở cấp mầm non.
Chưa có tác giả nào nghiên cứu, phân tích chi tiết các giải pháp quản lý triển khai trong chương trình trải nghiệm cấp mầm non. Với tư cách là một học viên cao học, tôi tin rằng để nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện cần đưa ra các biện pháp kiểm soát hoạt động giáo dục theo hướng trải nghiệm phù hợp, linh hoạt trong mọi môi trường giáo dục, đặc biệt là ở lứa tuổi mầm non, tôi đã mạnh dạn đề cập đến vấn đề này trong bài viết của mình được lựa chọn để nghiên cứu. Nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục phát triển tình cảm, kỹ năng xã hội cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non theo hướng trải nghiệm Các nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục của nhà trường thường tập trung vào việc quản lý hoạt động dạy học là hoạt động giáo dục cơ bản của nhà trường. Nghiên cứu của V V.Xtrêzicodin, Jaxapob, Xvecxlerơ làm rõ nhiều nhiệm vụ trong quản lý hoạt động dạy học và giáo dục của nhà trường, đồng thời 10 giới thiệu một số nội dung cơ bản về công tác quản lý của hiệu trưởng như: - Giao nhiệm vụ phù hợp cho cán bộ, giáo viên nhà trường, có biện pháp quản lý cụ thể để bảo đảm công tác quản lý giáo dục đạt hiệu quả cao.
- Cần tổ chức các hội thảo khoa học giữa các giáo viên để nâng cao chất lượng giáo dục. Thông qua các buổi hội thảo, giáo viên có thể chia sẻ kinh nghiệm và góp phần giúp giáo viên tự hoàn thiện bản thân tốt hơn. - Cần tổ chức quan sát bài học và phân tích sư phạm bài học. Quan sát lớp học là cách tốt nhất để đánh giá chất lượng giáo viên.
Đây là phương tiện hữu hiệu nhất cho hoạt động giảng dạy của lãnh đạo nhà trường thông qua việc quan sát lớp học [35]. Nghiên cứu của Brent Davis và Linda Ellison (Quản lý trường học trong thế kỷ 21, do Nguyễn Trọng Tấn, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội dịch, 2005) [50] xem xét vai trò của lãnh đạo nhà trường và giáo viên trong việc quản lý các hoạt động giáo dục. được giới thiệu. “Hiệu trưởng không quản lý việc học; họ chỉ đạo và quản lý giáo viên, những tổ chức tương đối linh hoạt và quản lý việc học, nguồn nhân lực và tài chính hỗ trợ quá trình giáo dục.
Các trường học đam mê quá trình giảng dạy vì giáo viên giỏi có quyền tự do theo đuổi mục tiêu riêng của mình. ý tưởng, và tương tự, bởi vì giáo viên không trực tiếp kiểm soát quá trình học tập. Nó rất phức tạp và chỉ có thể được thực hiện một phần. Những gì giáo viên muốn dạy và học không nhất thiết phải tuân theo một trình tự cụ thể.
Việc giáo viên lặp lại cùng một bài học thành công ở các lớp khác nhau với kết quả khác nhau là điều bình thường. Mặc dù các mối quan hệ tâm lý cá nhân ảnh hưởng đến thái độ của người học rất đa dạng (xem Handy 1993) và được định hình bởi nhiều yếu tố, nhưng rất ít điều trong tầm kiểm soát của giáo viên [50]. Việt Nam có nhiều tác giả đã nghiên cứu một cách có hệ thống, có những quan điểm, quan điểm, kinh nghiệm về quản lý giáo dục. Mỗi tác giả đi sâu tìm hiểu một khía cạnh cụ thể nhưng đều liên quan đến chủ đề quản lý giáo dục, quản lý nhà trường.
Tác giả Trần Kiểm giới thiệu một cách hệ thống và chi tiết về quản lý và điều hành giáo dục, quản lý giáo dục quốc gia, đổi mới trong quản lý giáo dục, quản 11 lý và lãnh đạo nhà trường.