CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu về giáo dục trải nghiệm bảo vệ môi trường 1. Giáo dục trải nghiệm Ưu thế của giáo dục trải nghiệm (GDTN) trong phát triển tư duy đã được nhiều nhà khoa học chứng minh.
Năm 1964, Hermann Ebbinghaus – nhà vật lý học người Đức, người đi tiên phong trong nghiên cứu thực nghiệm về trí nhớ đã chỉ ra rằng nếu tỷ lệ tiếp thu của bạn (từ một bài giảng) là 100% vào ngày thứ nhất thì tới ngày thứ hai, con số ấy sẽ giảm đi đáng kể từ 50-80% và cứ thế đến khi chỉ còn 2-3% vào ngày cuối cùng của tháng. Mặt khác, theo William Glasser, chúng ta chỉ học được 10% từ việc đọc, 20% từ việc nghe (từ người khác). Trong khi đó, ông cho rằng 80% kiến thức chúng ta tiếp thu được là thông qua việc trải nghiệm thực tế. Không chỉ có tầm quan trọng đối với việc phát triển trí nhớ, GDTN còn được chứng minh là giúp cho con người phát triển toàn diện: phát triển kỹ năng quan sát, kỹ năng nhận thức và tư duy, kỹ năng ứng xử, kỹ năng cảm nhận, biểu đạt tình cảm (Todd Fitch và Janet Watson, 2014).
GDTN đã được triển khai ở nhiều nơi trên thế giới, từ lứa tuổi mầm non cho đến tiểu học, trung học và cả đại học. Có thể kể đến một vài ví dụ như chương trình Dạy toán thông qua hoạt động trải nghiệm ở Hy Lap, dự án học tập trải nghiệm “Happy geometrical shapes” ở Lithuania, “Three Little Piglets And How They Built Their Houses” ở Latvia, “From people planet prosperity towards involved citizenship” ở Hà Lan…(Massari, G. và cộng sự, 2018) Ở Việt Nam, hoạt động trải nghiệm (HĐTN) trước đây với tên gọi là Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, được Bộ GD&ĐT đưa vào chương trình phân ban thí điểm THPT năm học 2002 - 2003 và tiếp tục được triển khai cuốn chiếu bằng chương trình phân ban đại trà với tất cả các trường THPT từ năm học 2006 - 2007 cho đến nay (Mai Đức Thắng, 2020). Trong Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018, Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được gọi với một tên mới là “Hoạt động trải nghiệm” đối với bậc tiểu học, và là “Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp” đối với bậc trung học.
Nội dung này là một trong những hình thức giáo dục gắn lý thuyết với thực hành. Tuy nhiên, trên thực tế trong các 5 trường học chính quy, kể cả công lập và dân lập còn nhiều hạn chế trong việc triển khai, có thể kể đến như được tổ chức một cách rời rạc thiếu tính hệ thống, không diễn ra thường xuyên, liên tục; trình độ và năng lực của giáo viên; số lượng học sinh đông và điều kiện cơ sở vật chất, nhân sự không đáp ứng, từ đó dễ dẫn đến các hoạt động mang nặng hình thức hơn là hướng đến trải nghiệm của đa số học sinh. Giáo dục trải nghiệm bảo vệ môi trường Giáo dục môi trường (GDMT) là một quá trình lâu dài sử dụng nhiều kỹ thuật dạy và học khác nhau, nhấn mạnh vào các hoạt động thực tiễn và trải nghiệm trực tiếp (Neal, P. Do đó, các phương pháp trải nghiệm tập trung vào trải nghiệm sống của chính người học và có mức độ tham gia cao đang ngày càng trở nên phổ biến trong GDMT (Daskolia, M.
và cộng sự, 2012). Tương tự GDTN, GDTN về môi trường cũng được tổ chức thực hiện ở nhiều quốc gia. Một vài dự án học tập trải nghiệm môi trường cho lứa tuổi mầm non có thể kể đến như “I Care About Our Nature” ở Lithuania, “Floating Raisins” ở Romania, “Germinating Seeds” ở Bồ Đào Nha, hay dự án học tập trải nghiệm ở cấp tiểu học Thổ Nhĩ Kỳ “Năng lượng gió” (Wind Power)… (Massari và cộng sự, 2018) GDMT mang đến cho trẻ nhỏ nhiều cơ hôi tiếp xúc với thiên nhiên và những người khác. Vì vậy, thông qua các tương tác khác nhau trong quá trình tham gia các hoạt động GDMT, trẻ có thể cải thiện tất cả các lĩnh vực phát triển khác nhau từ thẩm mĩ, tình cảm, nhận thức, giao tiếp, cảm giác vận động và cảm xúc xã hội (Pringle, R.
và cộng sự, 2003). Do đó, có thể nói, GDMT thông qua HĐTN giúp đáp ứng được mục đích phát triển toàn diện của giáo dục mầm non, bao gồm phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một (Nguyễn Thị Hòa, 2022). GDMT thông qua HĐTN không chỉ cải thiện thái độ của trẻ em mà còn có thể giúp xã hội giải quyết các vấn đề môi trường (Orr, D. Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai.
Có thể nói, việc cho trẻ cơ hội đưa ra những sáng kiến, giải pháp ở thời điểm hiện tại, dù nhỏ lẻ hay chưa khả thi nhưng với sự khích lệ và hướng dẫn của người lớn, những ý tưởng đó có thể sẽ được phát triển để đưa ra lời giải cho những bài toán hóc búa, 6 phức tạp hơn trong tương lai. Điều quan trọng nữa là thông qua GDTN BVMT, ở trẻ sẽ hình thành ý thức trách nhiệm của một công dân toàn cầu, công dân sinh thái. Không như nhiều người lớn nhận định rằng trẻ 3-6 tuổi còn quá nhỏ, kết quả của một nghiên cứu ở Illinois, Mỹ năm 1975-1976 đã cho thấy nhiều trẻ mẫu giáo có thể hình thành các khái niệm liên quan đến các vấn đề và trách nhiệm công dân. Trẻ không chỉ xác định được những hành động của bản thân mình mà còn phân định cả những hành động người lớn nên thực hiện (Bryant, C.
Một nghiên cứu khác năm 1993 cho thấy trẻ từ 3-5 tuổi đưa ra những đánh giá nhất quán về tác động của ô nhiễm, xả rác và quản lý tài nguyên thiên nhiên trong một cuộc phỏng vấn với các nhiệm vụ bằng hình ảnh (Cohen, S. và Horm-Wingerd, D. Hay trẻ em từ 4 đến 6 tuổi ở Chile hiểu môi trường là yếu tố ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của chúng (Lavanchy, S. Ngoài ra, hầu hết trẻ em từ 3-5 tuổi ít biết về rác thải và tái chế đều hiểu được các khái niệm cơ bản về quản lý rác thải sau khi tham gia các hoạt động tái chế trong lớp (Apanomeritaki, O.
Việc thúc đẩy các cách tiếp cận khác nhau sẽ giúp GDMT chiếm được trái tim và khối óc của các em nhanh hơn và dễ dàng hơn. Trên thế giới có nhiều chương trình GDTN BVMT khác nhau như HĐTN thông qua các chuyến đi thực tế ngoài trời (Moseley, C. và cộng sự, 2020), các chương trình GDMT thông qua hoạt động STEM (Blackley, S., 2019) hay STEAM (Syahmani, S. và cộng sự, 2021), học tập qua dự án môi trường (White, R.
và cộng sự, 2018),… và chương trình giáo dục nghệ thuật-sinh thái (eco-art education) hay giáo dục nghệ thuật môi trường (environmental art education) cũng là một trong số đó. Đây không phải là một lĩnh vực độc lập, mà là sự tổng hợp của nhiều nghiên cứu như nghệ thuật, khoa học và giáo dục liên quan đến môi trường (Orr, D., 1994), nhằm nâng cao nhận thức và mối quan tâm về các nguyên tắc môi trường như tính bền vững. Lĩnh vực nghiên cứu mới này hiện đang trở nên nổi bật, bởi vì nghệ thuật đóng một vai trò quan trọng trong tính bền vững của các hoạt động xã hội trong các chương trình phổ thông và đại học (Hansen, E. Thông qua các lớp học nghệ thuật từ nghệ thuật thị giác (visual art) đến nghệ thuật biểu diễn (performing art), giáo viên tích hợp các nội dung của GDMT để cùng lúc đạt được cả hai mục tiêu về giáo dục nghệ thuật (GDNT) và GDMT.
Những nghệ sĩ và người 7 học trong lĩnh vực này sử dụng tác phẩm nghệ thuật của họ để giáo dục công chúng và phát triển các giải pháp sáng tạo cho các vấn đề môi trường. Giáo dục nghệ thuật môi trường là một phương tiện giáo dục trẻ em về các vấn đề môi trường toàn cầu. Giáo dục nghệ thuật môi trường mang đến cho mọi người cơ hội kết hợp GDNT và GDMT để làm cho GDMT trở nên dễ tiếp cận hơn đối với người học. Giáo dục nghệ thuật-sinh thái tập trung vào GDNT, kết hợp GDMT và khám phá các khái niệm môi trường, bao gồm cả sự tiến bộ của phát triển bền vững (PTBV) (Inwood, H.
Nghiên cứu của Drach, T. (2020) chỉ ra rằng với việc tạo sự tập trung của trẻ hướng đến đời sống hoang dã và môi trường, các lớp học nghệ thuật vũ đạo có thể hình thành ý thức sinh thái của trẻ ở lứa tuổi mầm non vì đối với trẻ ở giai đoạn phát triển này, ngôn ngữ hình thể của cử chỉ và chuyển động mô phỏng các hình dáng và chuyển động trong thiên nhiên sẽ dễ hiểu hơn các thuật ngữ khoa học hay ngoại ngữ. Trong nghiên cứu này, giáo viên vũ đạo người Ukraine G. Shabarshina, người có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy, thường chuyển các lớp học của mình từ các sàn tập ra ngoài thiên nhiên, khuyến khích trẻ em giao tiếp với động thực vật.
Ngoài ra, trong quá trình luyện tập, cô sử dụng các đạo cụ tự nhiên, ví dụ như có thể dạy một đứa trẻ chụm các ngón chân lại để gắp và giữ một quả thông hay hạt dẻ. Đây là bài tập để tăng cường sức mạnh cho các ngón chân. Thực hiện các bài tập đi chân trần trên mặt đất, các con sẽ cảm nhận được bàn chân hoạt động như thế nào và sẽ cảm thấy như thế nào khi thực hiện động tác battement tendu hoặc battement tendu jeté trong bộ môn múa ba lê. Như vậy, với cách làm này, chúng ta đạt được cả 2 mục tiêu về GDNT và cả GDMT.
Đặc biệt, trẻ có cơ hội trải nghiệm thiên nhiên thông qua việc cảm nhận thiên nhiên bằng nhiều giác quan hơn lớp học nghệ thuật truyền thống khi vừa được nhìn, chạm, ngửi, nghe thiên nhiên, thậm chí tưởng tượng bản thân hòa vào tự nhiên, xem mình là một phần của thiên nhiên. Ở nghiên cứu của Kurt, P. (2002) về Isadora Duncan - người sáng tạo ra thể loại múa đương đại, trong các lớp học của cô, các chuyển động gần gũi hơn với bản chất con người đã được tái tạo bằng cách cho trẻ em cơ hội được hóa thân thành thỏ rừng, chim và báo. Điều nay đòi hỏi trẻ phải cố gắng quan sát kỹ hơn hành vi, cách di chuyển, sự duyên dáng của động vật để thông qua vũ đạo, trẻ thể hiện được các chuyển động của các loài vật một cách chân thực hơn.