phần mở đầu, khuyến nghị, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận đƣợc chia làm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động giáo dục pháp luật theo định hƣớng phát triển năng lực cho sinh viên Trƣờng đại học. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục pháp luật theo định hƣớng phát triển năng lực cho sinh viên trƣờng đại học Thủ đô Hà Nội. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục pháp luật theo định hƣớng phát triển năng lực cho sinh viên. Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng I CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁP TRIỂN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN TRONG TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1 Vấn đề giáo dục pháp luật theo định hƣớng phát triển năng lực cho sinh viên Thế kỷ XXI, tri thức đến với ngƣời học từ nhiều nguồn đa dạng, phong phú; ngƣời học có thể tự học nếu biết đƣợc cách học.
Giáo viên phải có năng lực hƣớng dẫn cho ngƣời học, để ngƣời học có thể tự tìm tòi lấy nội dung cần học và áp dụng vào thực tiễn không ngừng thay đổi. Do đó, phƣơng thức giáo dục theo định hƣớng phát triển năng lực để ngƣời học có thể phát huy tốt nhất khả năng tiềm ẩn của mình, hội nhập với nền tri thức thế giới… Qua đó, tạo ra sự đa dạng, thích ứng cao trong quá trình thu thập và xử lý thông tin… hiện đƣợc xem là cách thức truyền tải thông tin đến ngƣời học đem lại hiệu quả cao. Thuật ngữ năng lực có nguồn gốc tiếng latinh “competentia”, có nghĩa là gặp gỡ. Trong tiếng Anh, “năng lực” có thể đƣợc dùng với những thuật ngữ nhƣ capability, ability, competency, capacity,.
Capability: khả năng mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nhất định. Ví dụ: khả năng nói tiếng anh, khả năng sử dụng một phần mềm máy tính. Competency- Năng lực hành động: Khả năng thực hiện hiệu quả các hành động, các vấn đề liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động. Attribute: Phẩm chất cá nhân (quality of person) (cá tính hay nhân cách).
Ví dụ: khả năng kiên trì theo đuổi và giải quyết vấn đề. Hiện nay, khái niệm năng lực đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: Theo Từ điển Tiếng Việt [trang 639], “năng lực” đƣợc hiểu là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” khi đề cập tới năng lực của đối tƣợng nào đó hoặc “ là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lƣợng cao” khi đề cập tới năng lực của con ngƣời. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tâm lí học: Năng lực là tổ hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trƣng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động có kết quả. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam [tập III, trang 41]: Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một số dạng nào đó.
Các nhà giáo dục học phƣơng Tây rất coi trọng hoạt động giáo dục dựa trên năng lực, bởi theo họ đó là phƣơng pháp dạy đem lại hiệu quả cao, giúp công tác đánh giá việc tiếp thu kiến thức của ngƣời học có tính xác thực và hiệu quả. Nổi bật trong số đó là Gervais đã khái quát hoạt động giáo dục dựa trên năng lực nhƣ sau: “Giáo dục dựa trên năng lực đƣợc định nghĩa nhƣ là một hƣớng tiếp cận dựa vào kết quả đầu ra của ngƣời học (outcome - based education), kết hợp chặt chẽ giữa các phƣơng thức giảng dạy và hình thức đánh giá đƣợc thiết kế nhằm đánh giá việc học của học sinh thông qua việc thể hiện kiến thức, thái độ, giá trị, kỹ năng và hành vi của chúng đối với yêu cầu đề ra ở mỗi trình độ”. Harris et al lại cho rằng giáo dục dựa trên năng lực là phát huy tối đa năng lực riêng của mỗi học sinh, giúp học sinh tự tìm tòi, khám phá tri thức dựa trên sở thích và mối quan tâm riêng, giúp học sinh làm chủ tri thức và vận dụng nó vào thực tế cuộc sống. Giáo dục dựa trên năng lực thúc đẩy tƣ duy sáng tạo, phản biện và khả năng giải quyết vấn đề.
Ở Việt Nam, dƣới thời phong kiến, do chịu ảnh hƣởng của tƣ tƣởng Nho giáo, việc học mang tính chất thụ động, máy móc, vai trò của ngƣời thầy vẫn là chủ đạo trong quá trình dạy học. Khách quan mà xét, phƣơng pháp này có hiệu quả tích cực ở một thời điểm nhất định, song trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng nhƣ hiện nay, cách thức này nếu không biết vận dụng một cách sáng tạo có thể sẽ dẫn đến lối học vẹt, thiếu tính tƣ duy đổi mới… tạo nên sự trì trệ, bảo thủ trong quá trình dạy và học nói chung. Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, miền Bắc với nhiệm vụ hàn gắn vết thƣơng chiến tranh, khôi phục kinh tế, tiến lên CNXH; nhiệm vụ trọng tâm của miền Nam là tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện hòa bình thống nhất nƣớc nhà. Trong bối cảnh mới, nhiều biến động của tình hình trong nƣớc, các nhà 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạch định chính sách vẫn dành nhiều tâm huyết cho công cuộc phát triển nền giáo dục non trẻ.
Phƣơng pháp tự học tiếp tục đƣợc nhiều nhà giáo dục học nghiên cứu. Tuy nhiên, phƣơng pháp này, chủ yếu mới đƣợc đề cập dƣới dạng nêu những kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, chứ chƣa đi đến hệ thống khái quát thành cơ sở lý luận, phƣơng pháp luận của quá trình dạy và tự học. Ngƣời đi đầu đặt nền móng cho nền giáo dục và là tấm gƣơng sáng cho nghị lực và phƣơng pháp tự học ở nƣớc ta đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tƣ tƣởng: “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiệm vụ của cách mạng” và “về học tập phải lấy tự học làm cốt”. Trong những năm gần đây, giáo dục theo định hƣớng phát triển năng lực, phẩm chất ngƣời học là một xu hƣớng tất yếu của giáo dục Việt Nam và của các nƣớc trên thế giới hiện nay.
Nghị quyết số 29 – NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban chấp Hành Trung Ƣơng khóa XI đã khẳng định quan điểm chỉ đạo trong định hƣớng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo là: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dƣỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất ngƣời học” [Nguồn 3 tr 2]. Trong chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể (Tháng 7/2017), của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năng lực đã đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Năng lực là thuộc tính cá nhân đƣợc hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con ngƣời huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác nhƣ hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [nguồn 4, tr 36].
Tóm lại, nội hàm của giáo dục theo định hƣớng phát triển năng lực đó chính là nhằm hƣớng tới vấn đề đảm bảo chất lƣợng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con ngƣời năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Chƣơng trình này nhấn mạnh vai trò của ngƣời học với tƣ cách chủ thể của quá trình nhận thức. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Vấn đề quản lí hoạt động giáo dục pháp luật theo định hướng phát triển năng lực cho sinh viên Quản lý hoạt động giáo dục pháp luật theo định hƣớng phát triển năng lực cho sinh viên nhằm giúp sinh viên nâng cao hiểu biết và có ý thức tôn trọng pháp luật. Hoạt động giáo dục pháp luật là một nội dung quan trọng và bắt buộc trong chƣơng trình đào tạo ở các trƣờng đại học, cao đẳng ở Việt Nam hiện nay.
Hiến pháp 1992 đƣợc sửa đổi bằng Nghị quyết số 51/2001/QH 10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội đã có những quy định về giáo dục pháp luật nhƣ sau: “Nhà nƣớc tạo điều kiện để công dân pháp triển toàn diện, giáo dục ý thức công dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, giữ gìn thuần phong mỹ tục. Hiến pháp năm 2013 đƣợc Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013 quy định về giáo dục pháp luật nhƣ sau: “Thanh niên đƣợc Nhà nƣớc, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dƣỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân; đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc”. Trên cơ sở Hiến pháp và các luật liên quan, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo về công tác giáo dục pháp luật nói chung, trong đó nhấn mạnh đến giáo dục pháp luật ở các trƣờng đại học. Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ tƣớng Chính phủ nêu rõ: Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì phối hợp với Bộ Tƣ pháp đẩy mạnh công các giảng dạy pháp luật trong các trƣờng học.
Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ quy định: “Tổ chức việc giảng dạy các kiến thức pháp luật phù hợp với tất cả các cấp học, trình độ đào tạo. Xây dựng hoàn thiện chƣơng trình, giáo trình, sách giáo khoa giảng dạy pháp luật, giáo dục công dân; đổi mới, nâng cao chất lƣợng các hình thức phổ biến giáo dục pháp luật trong đó có hoạt động ngoài giờ lên lớp; rà soát và có kế hoạch bổ sung, đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ giáo viên, giảng viên dạy môn pháp luật và môn giáo dục công dân [nguồn 2, tr 2]. Đặc biệt trong luật số 14/2012/QH13 ngày 20 tháng 06 năm 2012, Quốc hội đã thông qua Luật Phổ biến, Giáo dục pháp luật. Luật này quy định tƣơng đối cụ thể về giáo dục pháp luật nói chung, giáo dục pháp luật trong nhà trƣờng nói riêng.